Hiển thị các bài đăng có nhãn BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 201. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 201. Hiển thị tất cả bài đăng

VĂN BÚT QUỐC TẾ



Bản Tin Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ

‘’Văn bút quốc tế (PEN International): Bù nhìn’’
nỗi ám ảnh của báo Công an cộng sản Việt Nam

Nhắc lại, theo Bản tin LHNQVN ngày 15 tháng 12 năm 2011, một Quyết Nghị về Việt Nam đã được Hội Đồng Đại Biểu họp Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế ngày 16 tháng 9 năm 2011 tại Belgrade, thủ đô nước Serbie, đồng thanh phê chuẩn. Theo đề nghị của Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh vực Nhà Văn bị Đàn áp và Cầm tù, bản Quyết Nghị do Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại soạn thảo đã nhận được tất cả các Phiếu Thuận. Không một Phiếu Trắng, không một Phiếu Chống
(* xem danh sách các Trung tâm Văn Bút Quốc Tế tham dự phiên họp của Hội Đồng Đại Biểu). Ban biên tập LHNQVN đã nhận định tiếp rằng : Qua bản Quyết Nghị về Việt Nam, Văn Bút Quốc Tế nghiêm khắc tố cáo Cộng Sản Việt Nam đàn áp tàn bạo những người cầm bút đối kháng độc tài và bênh vực Nhân Quyền.

Tự do phát biểu và thể hiện quan điểm là một trong những quyền căn bản hàng đầu. Văn Bút Quốc Tế không phải là ‘’bù nhìn’’ như báo Công an cộng sản ở Sài-Gòn-bị-chiếm-đóng đã vu cáo một cách trơ trẽn. Thật vậy, trong số báo Công an ra ngày 29 tháng 3 năm 2011, ký giả Công an cộng sản Hà Trình đã hằn học viết một bài với tựa đề ‘’Văn bút quốc tế (PEN International): Bù nhìn’’.

Vào lúc ấy, nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, Phó chủ tịch Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại và quan sát viên của Văn Bút Quốc Tế tại các Khóa Họp của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc (Genève), đang tham dự Hội Nghị lưỡng niên của Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù tại Bruxelles, thủ đô Vương quốc Bỉ. Qua cuộc điện đàm, nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt nói với chúng tôi rằng’’đối với một bài viết như thế, chúng ta không cần phải mất thì giờ bình phẩm nữa’’.


Đây không phải là lần đầu mà cơ quan truyền thông Công An cộng sản (từ Hà Nội đến Sài-Gòn-bị-chiếm-đóng) cho đăng những bài viết đầy ác ý xuyên tạc và vu khống đối với Văn Bút Quốc Tế và nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt (không phải Nguyễn Hoàng Bảo Việt như Công an cộng sản đã nhiều lần viết sai). Chín tháng đã trôi qua từ khi chúng tôi nhận được bài báo nói trên của Công an cộng sản do anh em sinh viên ở Hà Nội gởi cho. Sắp hết năm, chúng tôi tính sổ hoạt động, thu dọn cơ sở để chuẩn bị đón năm mới 2012.

Vì vậy, chúng tôi có ý định nhờ quý bạn đọc và quý diễn đàn giúp gởi trả lại cho tòa báo Công an cộng sản bài viết của ông Hà Trình. Trước khi cho đăng toàn văn bài ‘’Văn bút quốc tế (PEN International) : Bù nhìn’’ của nhà báo Công an cộng sản, chúng tôi muốn ghi ra mấy điểm cần được minh xác như sau : - Được giao cho nhiệm vụ viết bài ‘’công kích’’ Văn Bút Quốc Tế sau mỗi kỳ Đại Hội Thế Giới, ông Hà Trình thường dùng những chữ ‘’đội lốt nhà văn, nhà thơ”, ‘’thọc gậy bánh xe’’, ‘’thông tin đơm đặt, xuyên tạc’’, ‘’trắng trợn vu khống’’,‘’lừa gạt’’, ‘’hành vi bỉ ổi’’, ‘’bóp méo sự thật’’,‘’mưu đồ chính trị đen tối’’, v.v.

Những chữ đó không hề có trong ngữ vựng Văn Bút Quốc Tế. Nếu có chăng là dưới những chế độ độc tài quen thói đẻo gọt lưỡi gỗ, bẻ cong ngòi bút, áp đặt lên cán bộ cấp thừa hành mệnh lệnh tuyệt đối của đảng cầm quyền, chủ trương thủ tiêu hoặc hạn chế những quyền tự do phát biểu và diễn đạt quan điểm, quyền tự do báo chí, sáng tác và xuất bản.

CHXHCNVN là một thí dụ điễn hình nổi bật nhứt. - Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị Đàn áp và Cầm tù (WIPC/CODEP) chỉ phổ biến những tin tức, tài liệu khi nào được phối kiểm chính xác với ít nhứt hai hoặc ba nguồn tin khác nhau, trong đó có nguồn tin của một tổ chức quốc tế phi chính phủ tranh đấu cho Nhân Quyền hoặc một nguồn tin ngoại giao từ một Nhà Nước Dân Chủ.

- Theo sự hiểu biết của chúng tôi thì nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt là cựu hội viên Trung tâm Âu Châu Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Thuyền nhân tị nạn cộng sản, thi hữu là một nhà thơ Việt Nam lưu vong độc lập.

Ông chưa bao giờ đại diện cho Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại tham dự các kỳ Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế dù ông có góp phần vào công cuộc phục hoạt hội này. Không có người cầm đầu một đảng phái chính trị hoặc tổ chức văn hóa hay tôn giáo nào là kẻ chủ mưu đứng đằng sau giật dây nhà thơ lưu vong độc lập.

Chúng tôi cũng đồng quan điểm với ông: Chống độc tài cộng sản, bênh vực Nhân Quyền, một nhà văn, một nhà thơ, một nhà báo hay một vị tu sĩ độc lập có đủ tư cách và chính danh để hành động mà không cần mang chứng minh thư của một đảng phái chính trị dù tổ chức đó có đeo nhãn hiệu ‘’chống cộng’’ thật, ‘’tranh đấu cho tự do dân chủ’’ thật.

Cũng như đồng bào Việt Nam, chúng ta và cả các văn hữu thế giới kinh tởm khi nghe chuyện Công an cộng sản đào tạo cán bộ trở thành mục sư, linh mục hoặc nhà sư ‘’quốc doanh’’ hành nghề có thẻ đảng. Từ thập niên 80 đến nay, nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt chỉ là hội viên Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại trước khi được bầu vào Ban Chấp hành Trung tâm này. Ông giữ chức vụ Phó chủ tịch chuyên trách Ủy Ban Bênh Vực Nhà Văn bị Đàn áp và Cầm tù. Những hoạt động thuần túy tự nguyện và bất vụ lợi của ông nhằm để ủng hộ các văn thi hữu bất hạnh ở Việt Nam và cả các nước khác nữa.

Thi hữu từng là đại biểu của Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại (Centre PEN Suisse Romand) tại nhiều Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế và Hội Nghị Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị Đàn áp và Cầm tù (WIPC/CODEP). Tại Hội Nghị WIPC/CODEP Katmandou, thủ đô Népal, đầu năm 2000 (được UNESCO bảo trợ), ông là đại biểu duy nhứt đến từ nhóm các Trung tâm Văn Bút Pháp thoại (Pháp, Québec, Bỉ Pháp Thoại, Arménie, Roumanie, Sénégal, Algérie, Thụy Sĩ Pháp thoại, v.v.).


Ông là thành viên đồng sáng lập Trung tâm Nhà Văn Việt Nam Lưu Vong (độc lập đối với Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, một trong 145 Trung tâm Văn Bút Quốc Tế). Ngoài ra, thi hữu còn là hội viên của Hội Nhà Văn Liên Hiệp Quốc Genève. Chúng tôi tin tưởng rằng dưới chế độ độc tài cộng sản vẫn có những người cầm bút chân chính, còn lương tâm và lòng yêu nước thương đồng bào, dù họ ở ngoài hay ở trong cái gọi là ‘’Hội Nhà Văn Việt Nam’’ hay ‘’Hội Nhà Báo Việt Nam’’ (do ĐCSVN chỉ đạo và nuôi dưỡng).

Sớm muộn gì, họ cũng sẽ công khai đối nghịch với bạo lực phi nhân, băng đảng mafia phồn vinh trên những bất công xã hội, suy đồi văn hóa. Họ sẽ tố cáo và lên án những kẻ cầm quyền đồng lõa với ngoại bang xâm lược, để mất một phần máu thịt của đất nước. Những con người liêm sĩ hiếm có đó, bao gồm các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, tác giả bút ký điện tử, nhà luật học, các tu sĩ mọi tôn giáo, sẽ không chấp nhận việc cán bộ Công an cộng sản tiếp tục lạm quyền, lên tiếng, viết thay cho họ. Viết và lên tiếng như ông Hà Trình để vu cáo nhục mạ Văn Bút Quốc Tế và một nhà thơ Việt Nam lưu vong độc lập.

Nhà thơ đó, dưới ngòi bút của ký giả báo Công an cộng sản là ‘’kẻ đội lốt nhà văn nhà thơ’’, có nhiều thơ đăng trên Tạp chí PEN International Magazine của Hiệp Hội các Nhà Văn Thế Giới, Tạp chí Ex Tempore của Hội Nhà Văn Liên Hiệp Quốc Genève (tiếng Anh , Pháp, Tây Ban Nha, Nga, Á Rập, Trung Hoa và Việt Nam), Tuyển tập Twentieth-Century French Poetry (Critical Anthology) Thi Ca Pháp - Thế Kỷ Hai Mươi (Phê bình văn học) của Nhà Xuất bản Đại học Anh /Cambridge University Press. Hồi tháng 9 mới đây, tại Đại Hội Thế giới Văn Bút Quốc Tế Belgrade (nước Serbie), nhà thơ Việt Nam lưu vong độc lập này đã được mời đọc thơ trong chương trình Lễ Hội Văn Chương Thế Giới ‘’Trả Tự Do cho Ngôn Ngữ’’.

Giống như thi hữu đã từng đọc thơ tại các Đại Hội Văn Bút Quốc Tế ở Prague (Tiệp), Varsovie (Ba Lan), Ohrid (Macédoine), Bled (Slovénie), Moscou (Nga), Vienne (Áo), Tokyo (Nhựt) và ở Katmandou (Népal). Kết thúc Bản tin này, chúng tôi kính chuyển đến quý bạn đọc và quý diễn đàn trong nước và hải ngoại, toàn văn bài báo ‘’Văn bút quốc tế (PEN International) : Bù nhìn’’ của nhà báo Công an cộng sản Hà Trình. Genève ngày 25 tháng 12 năm 2011 Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ Ligue Vietnamienne des Droits de l’Homme en Suisse Vietnamese League or Human Rights in Switzerland.
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Bài của Hà Trình đăng trên báo Công an Sài-Gòn-bị-chiếm-đóng Văn bút quốc tế (PEN International): Bù nhìn Thứ ba, 29/03/2011 06:38 (CATP) Văn bút quốc tế, hay còn gọi Hội Nhà văn thế giới, tên tiếng Anh : PEN International (viết tắt PEN), là tổ chức phi chính phủ của diễn đàn văn học quốc tế, ra đời đến nay đã tròn 90 năm. Lẽ thường, văn chương là chốn thanh cao, hướng thiện, nơi người ta phải lao lực để sáng tạo. Nhưng gần đây, mỗi khi khai hội văn chương, PEN đã trở thành bù nhìn, để những kẻ đội lốt “nhà văn, nhà thơ” trong “Văn bút Việt Nam hải ngoại” mượn diễn đàn thực hiện những mưu đồ đen tối chống Việt Nam. Logo của PEN NHỮNG “QUYẾT NGHỊ” SAI TRÁI


DINH LÊ * VIỆT NAM & SINGAPORE

BỆNH ANH HÙNG
DINH LE

Anh hùng không phải là điều xấu, nhưng khi nó trở thành một ám ảnh thường trực, đã biến thành bệnh. Ví dụ, giữ gìn cơ thể sạch sẽ để phòng bệnh, là thói quen tốt. Nhưng sợ vi trùng đến nỗi bị ám ảnh như nhà kỹ nghệ nổi tiếng Howard Hughes, là người bị bệnh hiểm nghèo, tiếng chuyên môn gọi là hypochondriac. Theo triệu chứng tỏ tường, Việt Nam đã mắc “bệnh anh hùng”.

Tiếng chuyên môn viết tắt là HOC, do ở tiếng Anh Heroic Obsessive Compulsive Disorder. Bệnh [H]OCD hay “bệnh anh hùng” đáng sợ hơn tất cả các chứng bệnh khác. Người bị các bệnh khác, bao giờ cũng mong được chữa khỏi, và chịu khó chữa trị. Trái lại, người mắc bệnh anh hùng luôn tự hào về căn bệnh của mình, nên không thể chữa. Mười năm qua, tôi đã lui tới Singapore bốn lần, nhưng các lần trước ít chú ý về tình hình tại đây.

Một tháng ở đó trong lần chót vừa rồi, gặp đúng dịp đảo quốc này kỷ niệm bốn mươi năm ngày độc lập. Cũng trùng với dịp Việt Nam kỷ niệm sáu mươi năm cuộc Cách mạng tháng Tám, khiến tôi có ý định nêu ra mấy nhận xét đáng chú ý giữa Singapore và Việt Nam.

Không phải chỉ riêng tôi muốn so sánh Singapore với nước mình. Trong thời gian bão Katrina tàn phá, nhà bình luận thời sự nổi tiếng của báo New York Times là Thomas Friedman cũng có mặt ở Singapore. Ông đã viết hai bài trên trang bình luận của New York Times, và có những nhận xét về Singapore.

Trong bài báo ngày 14-9, ông viết: -“Nếu phải chọn bất cứ nơi nào ở Á châu để trải qua một trận bão, thì nơi đó nên là Singapore”. Friedman nói như vậy, vì so sánh với nỗ lực của Mỹ cấp cứu nạn nhân bão Katrina, Singapore mau mắn và hữu hiệu hơn nhiều khi cứu nạn nhân sóng thần ở Nam Dương vào cuối năm ngoái. Được như vậy, vì trong việc chọn người vào các chức vụ then chốt ở Singapore, người ta không chọn theo tiêu chuẩn bồ bịch, như ông Bush chọn cựu giám đốc cơ quan cấp cứu liên bang (FEMA) Michael Brown, hay “hồng hơn chuyên” theo kiểu Việt Nam.

Singapore chọn người theo tiêu chuẩn có khả năng nhất, và ít tham nhũng nhất. Để xứng đáng với khả năng và tránh tham nhũng, họ trả lương rất cao. Thủ tướng lãnh lương gần gấp ba lần tổng thống Mỹ, mỗi năm 1,1 triệu Mỹ kim; nhân viên chính phủ và thẩm phán Tối cao Pháp viện gần một triệu. Friedman nhận xét rằng, vào buổi đầu, việc cai trị tốt rất quan trọng tại Singapore: -“Vì đảng cầm quyền phải giành giựt tâm trí người dân với cộng sản, những người được tiếng là không tham nhũng và ân cần – khiến nhà nước phải cũng như vậy, hay khá hơn”.

Thật may mắn cho Singapore, cả phía cộng sản và không cộng sản. Nhờ những người không cộng sản nắm chính quyền mà Singapore được như ngày nay, và phe cộng sản nhờ không cướp được chính quyền nên ngày nay vẫn còn được tiếng là thân dân và không tham nhũng. Trong bài thứ nhì vào ngày 16-9, Friedman viết về tình hình giáo dục tại Singapore.

Theo ông, “chính quyền tại đây hiểu rằng, trong một thế giới phẳng (cả thế giới có thể thu gọn trong chiếc màn ảnh phẳng của máy computer), công việc có thể chạy đi bất cứ đâu thì khá hơn láng giềng chưa đủ. Cần phải đứng trên mọi người – kể cả chúng ta (Mỹ)”. Một hiệu trưởng cho biết: -“...

Chúng tôi đã nới lỏng đôi chút để cho phép học sinh nuôi dưỡng ý tưởng riêng của mình”, và “kiến thức có thể được tạo ra tại lớp học, chứ không phải chỉ đến từ thầy giáo”. Vẫn theo Friedman, các học sinh lớp bốn và lớp tám tại Singapore đã đạt được điểm cao nhất trong các kỳ thi quốc tế về toán và khoa học do Timss tổ chức. Và sách toán của Singapore đã được trường Mỹ, nơi con gái ông theo học, sử dụng tại Maryland.

Trong khi Singapore cố gắng vượt Mỹ về giáo dục, Việt Nam vẫn bắt buộc học sinh từ nhỏ đến lớn, muốn ra trường, phải học những môn “thầy không muốn dạy và trò không muốn học”, là môn “tư tưởng Hồ Chí Minh” và “lý thuyết Mác-Lê”. Ngoài ra, Việt Nam còn phí phạm nhân tài như kiểu tuyển những sinh viên ưu tú, gửi đi nước xã hội anh em Cuba, chịu cảnh đói rách, học những môn không phải sở trường của họ, như kinh tế và computer (theo phóng sự của báo Tiền phong, Hà Nội). Bây giờ, xin trở lại âm vang hai lễ lớn của Singapore và Việt Nam.


Cùng vào tháng Tám, một bên kỷ niệm 40 năm ngày độc lập (9-8), một bên kỷ niệm 60 năm ngày cướp được chính quyền (19-8). Việt Nam đi trước Singapore đúng 20 năm. Ngoài khác nhau về thời gian, còn khác nhau về người cầm quyền: Việt Nam có Đảng Cộng sản, với lãnh tụ Hồ Chí Minh; Singapore có Đảng Nhân dân Hành động (PAP – People’s Action Party), với lãnh tụ Lee Kuan Yew (Lý Quang Diệu). Dân số Việt Nam hiện có 83 triệu rưỡi người. Dân số Singapore chỉ bằng số lẻ của Việt Nam, công dân thực thụ có ba triệu rưỡi, cộng với 700 ngàn người ngoại quốc tới làm việc, là 4,2 triệu.

Nhưng Singapore đang sử dụng ba triệu rưỡi máy điện thoại di động, hơn Việt Nam một triệu đơn vị. Số ngoại tệ và vàng dự trữ của Singapore vào năm ngoái là 112,8 tỷ Mỹ kim, trừ đi số nợ phải trả cho ngoại quốc là 19,4 tỷ, nếu chia đều cho dân, mỗi đầu người được khoảng 26 ngàn Mỹ kim.


Trong khi ấy, số dự trữ của Việt Nam là 6,51 tỷ MK, nếu trừ đi số nợ ngoại quốc là 16,55 tỷ, tính đổ đồng mỗi người dân phải mang nợ chừng hơn 100 MK. Bao giờ dân Việt Nam đông bằng dân Trung Quốc, số nợ mỗi đầu người phải gánh sẽ giảm xuống còn khoảng 10 MK. Singapore chỉ cách Việt Nam hơn một giờ bay, tương đương khoảng cách Sài Gòn đi Hà Nội. Người dân Singapore cùng thuộc giống da vàng, chắc không thể thông minh và chịu khó hơn dân Việt.


Singapore lại bị những điều kiện kém Việt Nam, như đất hẹp, không có tài nguyên thiên nhiên, và phải dùng tới bốn ngôn ngữ chính. Nhưng tại sao, độc lập sau Việt Nam 20 năm, ngày nay Singapore nằm trong số những quốc gia đứng đầu danh sách các nước trên thế giới, trong khi Việt Nam nằm chung với các nước dưới cuối? Hình như câu trả lời là chỉ vì hai tiếng “anh hùng” mà thôi. Theo dõi Việt Nam kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám, hai chữ “anh hùng” được nhắc tới nhiều hơn cả.


Trước hết là diễn văn của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tại Quảng trường Ba Đình vào sáng 2-9: -“Nhìn lại những thành tựu vẻ vang của cách mạng Việt Nam 60 năm qua, chúng ta vô cùng tự hào về dân tộc ta, một dân tộc anh hùng... truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân Việt Nam chính là những nhân tố cơ bản, cốt lõi làm nên sức mạnh vô địch của nhân dân Việt Nam trong thời đại mới”. Rồi Chủ tịch: -“vô cùng biết ơn và cảm tạ các bậc lão thành cách mạng, các bà mẹ Việt Nam anh hùng”, trước khi kết luận: -“Dân tộc Việt Nam anh hùng, nêu cao truyền thống tự tôn dân tộc, nhất định sẽ lập nên những kỳ tích mới...”

Báo Nhân Dân ngày 2-9, qua bài “Hà Nội, 60 năm nhìn lại” viết: -“Trải qua 60 năm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hà Nội đã vươn lên mạnh mẽ, xứng đáng là thủ đô Anh hùng của nước Việt Nam Anh hùng”.

Và viết tiếp: -“Ghi nhận những thành tựu của Hà Nội trong hơn nửa thế kỷ qua, Đảng, Nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý Thủ đô Anh hùng”. Bài báo kết luận: -“...với truyền thống lịch sử nghìn năm văn hiến, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thủ đô phấn đấu hơn nữa, đưa thành phố Hà Nội trở thành thành phố hiện đại, là trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật của cả nước, xứng đáng là thủ đô Anh hùng của nước Việt Nam Anh hùng.” Sài Gòn, đã mất địa vị thủ đô từ hơn ba mươi năm, cũng được tặng danh hiệu anh hùng.

Báo Tiền phong Online ngày 2-9 tường thuật: -“Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã thay mặt Đảng, Chính phủ trao danh hiệu ‘Thành phố Anh hùng’ cho lãnh đạo TP.HCM. Tổng Bí thư nhắc đến truyền thống anh hùng của thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu” Tự ca tụng mình là anh hùng chưa đủ, mạng lưới chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 30-9 đã phổ biến lại bài bình luận của đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) ngày 29-8, mượn lời báo Mỹ để tự ca anh hùng: -“Ngay ở Mỹ, Báo Bưu điện Washington, một trong những tờ báo có đông độc giả cũng vừa có bài khẳng định, chủ nghĩa anh hùng của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh giải phóng này đã khích lệ và tạo nguồn cho hàng triệu người trên khắp địa cầu, kể cả tại Mỹ, đấu tranh chống lại chiến tranh và cường quyền” (“Báo Bưu Điện Washington”, có lẽ là Washington Post, nhưng không nói rõ bài báo xuất hiện ngày nào, nên người viết không thể kiểm chứng).

Theo dõi Singapore kỷ niệm 40 năm lập quốc, không nghe thấy ai nhắc tới hai tiếng anh hùng. Thủ tướng Lee Hsien Loong (Lý Hiển Long, con Lý Quang Diệu), trong cuộc nói chuyện lâu hai tiếng rưỡi, [1] không có lần nào ông trực tiếp hay gián tiếp nhắc tới công nghiệp của bố Lý, cũng không hề đả động gần xa tới Đảng Nhân dân Hành động, là đảng cầm quyền từ năm 1959.

Trong khi ấy, Chủ tịch Trần Đức Lương của Việt Nam, trong bài diễn văn quốc khánh, đã hãnh diện: -“Tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc, tư tưởng và cuộc đời vẹn toàn của người mãi mãi là ngọn đuốc soi đường, là kho tàng vô giá của dân tộc ta cho hôm nay và cho cả mai sau. Sự cộng hưởng vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh, sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng Sản Việt Nam...”

Chính Hồ Chí Minh khi còn sống, cũng tự nhận mình là anh hùng. Trong dịp viếng đền Kiếp Bạc, nơi thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, họ Hồ đã xuất khẩu thành thơ: -“Bác anh hùng, tôi cũng anh hùng”. Trong hai cuối tuần lễ lạt ăn mừng độc lập, Singapore không nói tới thắng lợi, không nhắc tới kẻ thù.

Thủ tướng Loong nhấn mạnh: -“Được như ngày hôm nay là nhờ “nhân dân chúng ta, tư tưởng chúng ta, và hành động của chúng ta. Điều quan trọng hơn cả là chúng ta đã tạo được một tinh thần Singapore. Chúng ta can đảm nhưng nhân đạo, chúng ta tự tin nhưng không bao giờ tự kiêu”. Trong khi đọc diễn văn, có lúc thủ tướng Singapore đã rưng rưng nước mắt, khi nhắc lại kỷ niệm khó quên, xảy ra trong dịp lễ độc lập năm 1968.

Thời gian này, Việt Nam đã nổi tiếng thế giới với trận Tổng công kích Mậu Thân, với quyết tâm “giải phóng Miền Nam”, dù phải san phẳng dãy Trường Sơn và hy sinh hàng triệu người. Trong khi ấy Singapore đang bơ vơ, không biết sẽ làm gì để sống. Nước Anh, tuy đã trả độc lập cho Singapore, vẫn còn giữ lại căn cứ quân sự ở Seletar Air Base, hẹn đến năm 1971 mới ra đi. Nhưng đầu năm 1968, Anh quyết định rút sớm, khiến khoảng 150 ngàn dân trực tiếp hay gián tiếp làm cho quân đội Anh bị mất việc.

Thu nhập của những người này bằng 20% tổng số lợi tức quốc gia. Singapore họp nhau kỷ niệm lần thứ ba ngày độc lập trong tình huống lo lắng như vậy. Sáng ngày 9-8, trời quang mây tạnh, nhưng trước khi cuộc lễ bắt đầu, mưa đổ tầm tã.

Tất cả mọi người cố giữ nguyên hàng ngũ. Đó là niềm hãnh diện về sự quyết tâm, cũng là nỗi xót xa của Singapore trong lịch sử lập quốc của mình. Báo chí Singapore năm nay đã dành nhiều trang lớn, đăng bài vở, hình ảnh và phỏng vấn về lễ kỷ niệm mưa gió này. So với những trận mưa bom đạn mà dân Việt Nam phải chịu từ Bắc tới Nam, trải qua một trận mưa rào nhiệt đới, không bằng chuyện muỗi cắn.

Nhưng với những người không muốn làm anh hùng, muỗi cắn cũng đau. Trong khi Việt Nam sợ “diễn biến hòa bình”, Singapore chủ trương phải thay đổi, hay là chết. Thủ tướng Loong khẳng định: -“Vì thế giới sẽ thay đổi, nếu Singapore vẫn như hiện nay, chúng ta chết”. Trong khi Việt Nam cảnh giác về “bọn phản động trong nước”, và những “thế lực thù địch bên ngoài”, Singapore chủ trương xây dựng một “xã hội hợp quần” (inclusive society), thúc đẩy sự tham gia của mọi người trong nước, và sẵn sàng học hỏi từ các nước, kể cả Việt Nam. Thủ tướng Loong kể chuyện: -“Tôi gặp một nhà vô địch Võ Nam Dương (silat), hỏi ông ta ai là đối thủ đáng sợ nhất tại cuộc tranh tài Á Châu SEA Games?

Ông ấy nói Việt Nam. Tôi sốc. Tôi nói Việt Nam biết gì về Võ Nam Dương. Thái cực đạo, Kong fu, hay mấy môn võ cổ truyền Đông phương thì họa may, nhưng silat? Ông ấy nói đúng đấy. Từ con số không, họ bắt đầu học vào năm 1993, với hai huấn luyện viên Nam Dương. Mới đầu, không cơ sở, không vận động trường, không dụng cụ tối tân. Họ lấy mấy ống kim khí, buộc vào nhau thành khung, bọc lại, làm đệm, đấm đá, luyện tập vất vả. Sau vài năm, họ biết khá rồi, cho huấn luyện viên về, tự lo lấy. Bây giờ, họ là vô địch Đông Nam Á, đang nhắm chức vô địch thế giới. Và thứ võ này là môn thể thao hàng đầu ở Việt Nam”.

Ông Loong kết luận: -“Chúng ta cần có một tinh thần như thế”. Học võ mà bắt chước Việt Nam, đúng quá! Singapore không có tài nguyên, một chút đất trồng rau cũng không có, ngay nước dùng hàng ngày còn lo thiếu. Tất cả mọi thứ đều phải nhập cảng.

Chỉ còn vốn liếng đáng quý hơn cả là con người. Thay vì hy sinh con người để làm anh hùng, hay làm “nghĩa vụ quốc tế vẻ vang” như lời ông Trần Đức Lương, Singapore đã cố gắng chăm sóc và xây dựng người dân của mình để tạo một thành phố tiến bộ kiểu đệ nhất thế giới, nằm trong thế giới thứ ba. Singapore hiện nay là thành phố sạch sẽ vào hàng nhất thế giới.

Người ta có thể đi bộ vẹt gót giày khắp phố lớn phố nhỏ, mà không sợ đạp cứt chó như ở Paris. Singapore cũng an ninh vào hạng nhất thế giới. Thẩm phán Tối cao Pháp viện David Souter bị tấn công khi đang chạy bộ gần nhà ở Washington DC, mới 9 giờ tối, vào cuối tháng Tư năm ngoái. Tôi từng bị móc túi ở New York, Paris, và bị người lái taxi lừa khi vừa ra khỏi phi trường Roma, nhưng hoàn toàn yên tâm khi di chuyển ngày hay đêm, đi bộ hay taxi tại Singapore.

Tuy tinh thần phục vụ của người Singapore hiện nay rất cao, ví dụ người tính tiền tại các chợ hay cửa hàng, mỗi khi trao đổi với khách, đều dùng cả hai tay và kính cẩn cúi đầu, miệng nói cám ơn, nhưng Thủ tướng Loong vẫn chưa hài lòng.

Ông than rằng Singapore thiếu văn hóa phục vụ tự nhiên. Ông so sánh với người Thái, người Ấn, người Nhật, người Úc, mỗi khi gặp khách đều có lời chào trước khi vào việc, trong khi người Singapore hỏi ngay là mình có thể giúp gì, hay tệ hơn, là ông hay bà muốn gì. Ông đã coi việc phục vụ như một danh dự, và quyết định nâng cao phẩm chất phục vụ lên hàng quốc sách, trao cho một tổng trưởng chịu trách nhiệm.

Trong khi Việt Nam nêu cao khẩu hiệu: “Noi gương Bác Hồ đời đời kính yêu”, khẩu hiệu mới của Singapore là “GST”, chữ đầu của “Greet, Smile and Thank” (CCC – Chào, Cười và Cảm ơn). Giống như ông Reagan làm trong mỗi dịp đọc Thông điệp Liên bang, ông Lý Hiển Long đã giới thiệu, và kể những câu chuyện về mấy thường dân đặc biệt. Một trong những người được ông đề cao, là bà cựu thư ký 63 tuổi. Bà này vì hoàn cảnh, đã phải đổi nghề nhiều lần. Cuối cùng, nhận việc lau chùi cầu tiêu, kiếm thêm tiền để dành cho con đi hoc.

Con bà không muốn, hỏi bà: Sao má hạ mình quá thấp như vậy? Bà trả lời, chùi cầu tiêu không làm mất nhân phẩm. Làm để sống, đâu có trộm cắp ai. Kết thúc câu chuyện, ông muốn mọi người “biết và tin rằng phục vụ là việc làm danh dự.

Không phải là những việc thấp hèn”. Qua việc Thủ tướng Singapore đề cao người chùi cầu tiêu, khiến tôi liên tưởng tới chuyện mới xảy ra tại trụ sở Liên Hiệp Quốc. Trong phiên họp thượng đỉnh cấp quốc trưởng tại Hội đồng Bảo an của khóa họp thứ 60, Đại Hội đồng LHQ ở New York vào ngày 14-9-05, ký giả của hãng Reuters, dùng ống kính nhìn xa, đã chụp được tay tổng thống Bush đang viết một cái note cho Ngoại trưởng Condoleezza Rice ngồi cạnh. Phóng ảnh to lên, đọc được mấy chữ của ông Bush, không phải chuyện sống còn của thế giới, mà là: -“Tôi nghĩ rằng tôi cần đi cầu.

Liệu có được không?” (I thinhk I may need a bathroom break. Is this possible?). Điều này nhắc nhở mọi người một thực tế là, dù có quyền lực lớn chưa từng ai có được trong lịch sử loài người như ông Bush ngày nay, cũng không thể cưỡng nổi tiếng gọi của thiên nhiên. Vậy thì, hạnh phúc trong cuộc sống thường ngày, không nên đo bằng tiền bạc hay quyền cao chức trọng, hãy đo bằng chỉ số cầu tiêu.

Singapore là nơi nhiều cầu tiêu và sạch sẽ nhất thế giới. Washington, DC. nhờ có nhiều bảo tàng viện và đài kỷ niệm, nơi nào cũng đầy đủ cầu tiêu, nên cũng đỡ. Paris tệ nhất, vừa ít, thiếu vệ sinh, lại phải trả tiền. London khá hơn, nhưng vẫn không có nhiều.

Tại New York, năm 1990, Trung tâm Công lý Đô thị (Urban Justice Center) đã kiện thành phố vì không cung cấp đủ nhà vệ sinh công cộng. Dù vậy, trải qua ba đời thị trưởng, kể cả thị trưởng nổi tiếng thế giới Giuliani cũng không thỏa mãn được nhu cầu này. Mới đây, ông thị trưởng Bloomberg đã chọn công ty Cemusa của Tây Ban Nha để thiết lập 20 nhà cầu trên đường phố. Trong khi ấy, tại Singapore, nhìn chỗ nào cũng thấy dấu hiệu nhà vệ sinh.

Tại các tiệm bán hàng lớn, nhà vệ sinh nhiều gấp hai gấp ba lần so với bên Mỹ. Ví dụ tại Tyson Corner, khu thương mại lớn nhất ở ngoại ô Washington, DC., khách của nhà bán hàng vào loại sang Nordstrom, nhiều khi từ tầng này phải qua tầng khác, kiếm mãi mới thấy WC. Tại Singapore, tiệm Takashimaya ở đường Orchard, trong cả 7 tầng, mỗi tầng đều có bốn nhà vệ sinh, hai nam, hai nữ. Ngoài số lượng, nhà vệ sinh Singapore còn có phẩm chất cao, chỗ nào và lúc nào cũng sạch sẽ. Lần đầu tiên tới Singapore, thấy ở đây đôi chỗ vẫn còn dùng loại bàn cầu kiểu cổ như ở Việt Nam, tuy cũng tráng men sạch sẽ, tôi bèn tìm hiểu, mới biết rằng, vì công chúng có nhiều người vẫn còn thích xài kiểu cổ. Vệ sinh hơn kiểu mới và đỡ phải lót giấy khi ngồi.


Ngoài ra, còn cái thú hồi hộp khi sử dụng, phải tính toán, cân nhắc như một cao thủ thể thao, hay một nhà thiện xạ, rót sao cho trúng mục tiêu. Lần chót vừa rồi ở Singapore, tôi vào chỗ đi tiểu tại một tiệm bán hàng trên đường Orchard. Vừa đứng trước bồn, đang còn sửa soạn, chưa kịp trình diễn, đã thấy nước trong bồn tự động xịt cái ào. Nghĩ bụng chắc có trục trặc kỹ thuật. Trình diễn xong, nước tự động xịt lần nữa. Bán tín bán nghi, bèn đứng thử trước mấy bồn khác, thấy cái nào cũng xịt hai lần trước sau như vậy.

Tuy đã ở Mỹ ba mươi năm, lúc ấy tôi có cảm tưởng mình như anh nhà quê lần đầu ra tỉnh. Bây giờ, xin ghé qua “nước Việt Nam Anh hùng”. Rất tiếc, tôi đã không có mặt tại Việt Nam, để có thể nhận xét tại chỗ, như đối với Singapore. Tuy nhiên, những gì nêu ra sau đây, đều là những tài liệu chính thức đã công bố từ Việt Nam. Theo báo DanTri.com.vn, du khách ngoại quốc đã phiền hà rất nhiều, vì Việt Nam thiếu nhà vệ sinh công cộng.

Những nơi có nhà vệ sinh thì bị đòi tiền quá giá chính thức. Những nơi không nên có nhà vệ sinh, thì lại có, như cạnh chỗ nấu ăn, khiến thực khách từ chối không ăn. Vẫn theo báo này, một doanh nhân đã khuyên: -“Khoan hãy nói tới những chuyện to tát khác, khoan hãy tốn tiền cho những chuyến đi quảng bá hình ảnh du lịch ở nước ngoài, nếu chưa lo được... cái W.C cho du khách!”

Trong khuôn khổ kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám, ngày 18-8, Bộ Ngoại giao Việt Nam long trọng công bố cuốn sách “Thành tựu bảo vệ và phát triển con người ở Việt Nam”, dư luận quen gọi là Sách trắng về Nhân quyền. Cuối mục “Bảo đảm quyền về y tế”, sách ghi nguyên văn: -“Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng hố xí hợp vệ sinh năm 1995 là 27,33% (thành thị 54,9%, nông thôn 17,3%), năm 2000 là 44,07% (thành thị 81,77%, nông thôn 32,49%).” Những con số này nói gì?

Con số đầu cho biết trong nửa thế kỷ dưới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chỉ có hơn một phần tư trong số gần 80 triệu nhân dân Việt Nam anh hùng được sử dụng hố xí hợp vệ sinh, còn hơn 50 triệu dân vẫn phải bài tiết một cách thiếu vệ sinh.

Con số thứ nhì cho thấy, 55 năm sau khi cách mạng thành công, hơn một nửa nhân dân anh hùng vẫn chưa có được cái hạnh phúc nhỏ nhoi là sử dụng hố xí hợp vệ sinh. Năm ngày sau lễ Độc lập 2-9, từ “thủ đô Anh hùng của nước Việt Nam Anh hùng” (chữ của báo Nhân Dân), trong khi trả lời một bài phê bình, nhà văn Dương Thu Hương, mới đi ngoại quốc về, nói rằng: -“Tôi trở lại Việt Nam là để ỉa vào mặt kẻ cầm quyền”.

Thú thật, lúc đầu tôi hơi bị sốc khi đọc câu này. Nhưng nghĩ lại, tôi thấy chẳng qua cũng chỉ là phản ứng tự nhiên của nhà văn. Đảng đã cầm quyền 60 năm, hy sinh xương máu của vài ba triệu người, hy sinh hạnh phúc của vài ba thế hệ. Kết quả: hơn nửa số nhân dân vẫn không có nổi một hố xí hợp vệ sinh. Vậy, chỉ còn cách dùng ngay mặt kẻ cầm quyền làm hố xí.

Chỉ e rằng cách giải quyết này cũng không hợp vệ sinh. Sự khác nhau giữa Singapore và Việt nam đã phản ảnh rõ qua lời tuyên bố tiêu biểu của nhà lãnh đạo hai quốc gia trong lễ độc lập của mình. Tuy được xếp ngang với các nước hàng đầu thế giới về nhiều phương diện, Thủ tướng Lý Hiển Long vẫn tuyên bố: -“Singapore chúng ta không có một văn hóa phục vụ tự nhiên...chúng ta còn phải cố gắng nhiều để đạt trình độ thế giới...” (In Singapore, we don’t have a natural service culture... we have a long way to go to reach world class...).

Trong khi Việt Nam xếp hàng với những nước cuối danh sách về nhiều phương diện, Chủ tịch Trần Đức Lương tuyên bố: -“Dân tộc Việt Nam anh hùng, nêu cao truyền thống tự tôn dân tộc, nhất định sẽ lập nên những kỳ tích mới...” Nhiều người thắc mắc, tại sao dân tộc Việt Nam thông minh, cần cù và hy sinh nhường ấy, vẫn không thể tiến bộ? Nhưng thử hỏi lại, mang trọng bệnh 60 năm, chưa chết đã là may, còn mong chi tiến bộ?

Trong dịp kỷ niệm 40 năm độc lập, báo chí Singapore phỏng vấn nhà lãnh đạo lão thành Lý Quang Diệu về tương lai đất nước, ông trả lời: -“Chúng ta đã không phung phí 40 năm qua và không lý nào chúng ta không thể phát lên được.” (We’ve not wasted the last 40 years and there’s no reason we can not make this breakthrough) . Việt Nam đã phí phạm 60 năm qua, làm sao để phát lên được? __._,_.___


KÝ NGUYỄN MINH CHÂU

TẾT LẠNH NƠI MIỀN YÊN BÁI

Wednesday, January 26, 2011 4:33:57 AM

Sáng tác: Nguyễn Minh Châu. HỒI KÝ.

(Trích hồi ký : Cuộc Đời Đổi Thay)
- Mũ xanh Nguyễn Minh Châu -
Các chiến hữu và quý vị thân mến,
Hôm nay thời tiết mùa Đông đã đến, chúng ta đang sống cuộc đời tỵ nạn nơi xứ văn minh tiến bộ. Gia đình con cháu chúng mình hưởng được cuộc sống đầy đủ, nhà ở rất tiện nghi, được trang bị đầy đủ máy nước nóng, lò sưỡi ấm mùa đông và máy điều hoà cho mùa hè vv…Chúng ta không bị đói lạnh thân xác, nhưng tâm hồn chúng ta cảm thấy lạnh giá vì nỗi nhớ quê nhà, xa quê cha đất tổ.
Chúng ta luôn mong đợi ngày về quê hương trong cảnh thanh bình và được tự do dân chủ. Nhưng riêng ý nghĩ của tôi đã theo dõi tình hình bên nhà từ hơn 30 năm qua nên lo nghĩ là ngày về với tuổi của tôi và những vị cao niên hơn còn xa :

Bao nhiêu năm ta thở dài trăn trở
Xe lăn mỏi mòn sức lực tàn phai
Nỗi buồn nhớ nhà khắc khoải u hoài
Phải nhận đất nầy làm nơi huyệt mộ !?
(Trích bài thơ U Hoài
Nguyễn Minh Châu TĐ3 Soibien)

Mỗi độ Đông về nơi xứ người, trời mây mù ảm đạm và có nhiều mưa buồn lắm, làm cho người lính già thường hay ngồi ôn nhớ lại những kỷ niệm dĩ vãng của đời binh nghiệp khó quên. Rồi nhớ lại ngày 30 tháng 4 năm 1975 oan nghiệt chấm dứt đời lính của chúng mình trong sự nhục nhã và uất hận, để rồi chúng ta bị đày đoạ trong các trại tù lao động khổ sai. Những ai đã từng bị đày trong các trại tù miền Bắc chắc vẫn còn nhớ tới những ngày mùa Đông lạnh xé da cắt thịt của vùng núi rừng hoang vu miền Yên Bái, Bắc Việt.


Tất cả các trại tù miền Bắc đều được xây cất giống nhau một kiểu mẫu như hình trên đây. Mấy dãy nhà trong trại nơi tôi ở nằm trên hai ngọn đồi thoai thoải. Trên ngọn đồi lớn là mấy dãy nhà của những người có sức khoẻ lao động nặng như vác cây rừng và cây bồ đề, vác chỏm là một loại tre rừng nhưng bọng ruột, cày cuốc để canh tác, gánh phân người tưới rau và chăn trâu bò vv…Trên ngọn đồi nhỏ bên cạnh là một dãy nhà dành cho những người tù bị tàn phế, già cả hoặc bịnh hoạn sức yếu làm việc nhẹ như trồng rau, đập tre, chẻ tre và đan lác.
Tội nghiệp ! tù đã ăn đói mà hai người phải vác một thân cây bồ đề rất nặng. Có vài người bị cụp xương sống tàn phế đến bây giờ như anh Trung tá Khoa bạn của tôi đang sống tại Bắc Cali. Nhưng khổ nỗi là đói không dám than, đau cũng không dám rên siết sợ bọn cộng sản cho là phản động.

Nói đến đây tôi liền nhớ tới cái chết tức tửi của cháu Paul gọi tôi bằng cậu ruột. Cháu Paul là Phân Chi Khu Trưởng tại quận Phù Cát của Thiếu tá Phương TQLC. Cháu bị bắt ngay sau ngày 30-4-1975 và bị giam tại các trại tù cải tạo vùng đèo An Khê. Cháu bị đánh bằng báng súng AK 47 nên bị học máu chết ngay tại chỗ lao động vì cải lịnh của tên bộ độ cộng sản để cứu người bạn bị té xỉu trên đường về trại vì đói và kiệt sức. Tên cộng sản buộc người tù té xỉu phải tự khắc phục và vác tre tiếp, đây là danh từ của bọn cộng sản. Cháu Paul cải lời tên cộng sản và vác thay cho bạn mà ra nông nỗi . Mẹ của cháu Paul là bà Hương cựu hiệu trưởng trường nữ trung học Lê Văn Duyệt trước năm 1975. Điều nầy làm tôi ân hận suốt đời vì ngại mang tiếng là con ông cháu cha nên không xin cháu Paul về quận của tôi sớm hơn. Và hơn nữa, mẹ của cháu Paul đã nuôi tôi ăn học từ khi Mẹ của chúng tôi mất sớm từ lúc tôi chưa lên 5 tuổi.
Thôi, cũng là số kiếp của cháu tôi !

Tết trong tù lạnh và buồn não nề !
Trong thời gian chưa được gia đình tiếp tế, chúng tôi rất mong những ngày Tết và những ngày lễ của ông cha bọn cộng sản của chúng nó để trong ba ngày Tết được ăn một chén cơm đầy không độn bắp cứng như đá hay khoai lang phơi khô, và tù được ăn một miếng thịt trâu bằng hai ngón tay chéo. Một con trâu cho cả trại và ban chỉ huy trại. Được chia làm 3 ngày: ngày đầu ăn thịt, ngày thứ hai ăn canh rau nấu với xương, ngày thứ ba ăn da trâu kho nước mắm. Da trâu kho nhớt nhớt và kẹo lại giống như a-dao trong miền Nam pha với vôi sơn tường nhà cho dính. Tội nhiệp những người không có răng cứ nuốt đại vào cho đỡ thèm. Nhưng những món ngon là phải để dành cho bọn cán bộ.

Tôi cũng còn nhớ nơi trại tôi có Trung tá Tuấn, thiết giáp, chỉ huy trưởng căn cứ Đồng Tâm tại Mỹ Tho do Mỹ giao lại. Trong những lúc ra ngoài lao động ông Tuấn có quen được một gia đình mà người cha là lính Pháp bị đày đi kinh tế mới Yên Bái sau năm 1945 làm ruộng rẫy gần trại. Ngày mùng 2 Tết năm 1978 vài tên bộ đội của trại thấy ông Tuấn vác đòn bánh chưng trên đường về chận lại hỏi và dẫn về trại điều tra mới lòi ra sự việc là gia đình của ông đã lén lút gởi tiền và vàng ra Yên Bái tiếp tế cho ông Tuấn. Trung tá Tuấn bị nhốt cả tháng trời và bị đánh đập kêu trời ầm ĩ trong hầm. Nhưng khi được thả ra chúng tôi nhìn ông còn thất thần và không dám nói một lời là bị chúng đánh dã man tàn bạo đến nỗi phần hạ bộ của ông bị sưng to như cái tô. Việc nầy anh Trung tá Lê Bá Bình TQLC tại San José còn nhớ rõ.

Có một bà vợ của tù cải tạo nơi trại khác được giấy phép thăm chồng ngày mùng 2 Tết. Bà gặp Thiếu tá Vang cùng trại với tôi đang chăn bò trên triền đồi gần đường lộ đất và hỏi thăm rằng : Chú ơi ! chú có biết trại nhốt tù cải tạo số 5 ở đâu không ? Mấy anh bộ đội chỉ lòng vòng tôi đi cả ngày nay khổ quá ! Thiếu tá Vang trả lời : bà hãy đi vào 2 cây số nữa thấy mấy anh bộ đội đi lai vãng hỏi họ sẽ chỉ cho bà, tôi cũng là tù cải tạo của trại 1 gần đây. Bà ấy nhìn thấy hình dáng ốm ròm, gương mặt xanh xao hốc hác bà xúc động liền ngã quỵ. Sau vài phút bà tỉnh dậy rồi hai người vắn tắt trao đổi tin tức. Bà được biết ông nầy là Thiếu tá quận trưởng còn chồng bà cũng là quận trưởng cấp Trung tá. Bà thương cảm cho ông Vang một ổ bánh mì, một ít thịt kho khô và vài mươi đồng bạc tiền mới . Ông Vang ăn ngay nửa ổ bánh và dấu thịt kho và tiền vào bìa rừng cẩn thận để dành ăn 3 này Tết. Vụ nầy chỉ có tôi biết vì ông Vang là bạn học của em vợ tôi và biết vợ chồng tôi rất nhiều. Ông Vang nhìn ra tôi nhờ tấm hình chụp gia đình của vợ tôi gởi ra. Anh em ngủ đối diện đã lâu ngày mà chẳng ai nhận ra ai.

Tôi còn nhớ mãi ngày mùng một Tết, Thiếu tá Nguyễn Nghiêm Trưởng phòng An ninh của Tiểu khu BH có đến dãy nhà tôi ở để chúc Tết tôi. Ông đã nói rằng, năm mới em chúc anh được nhiều sức khỏe để học tập tốt và lao động tốt để cách mạng khoan hồng cho anh về sớm với gia đình. Câu nói nầy luôn luôn ở đầu môi chót lưỡi của bọn quản giáo, tôi chán ghét vô cùng nhưng phải nói y rập khi anh em bạn cùng đơn vị thỉnh thoảng gặp nhau hay là viết thơ về thăm vợ con cũng bấy nhiêu câu dặn dò đó. Anh em chỉ nói lén chưỡi bọn cộng sản cho đỡ tức tối nơi vắng người mà thôi.
Một sự việc làm cho tôi không cầm được nước mắt khi tôi lấy gói kẹo ra mời ông Nghiêm dùng gọi là đãi khách ba ngày Tết. Ông Nghiêm nói rằng em không ăn đâu, anh nên để dành ăn cho đỡ đói vì em cũng có phần như anh vậy.

Mỗi tù thỉnh thoảng được phát cho một nắm thuốc lào, nếu ai không hút thuốc thì bọn chúng cho 10 viên kẹo nhỏ, chỉ nghe mùi đường tán chứ chẳng có mùi vị gì mà trong Nam mình gọi là kẹo local. Nhưng bọn cộng sản khen là kẹo của XHCN ngon đáo để.
Vào dịp Tết, ban nhà bếp gói cho mỗi người tù một cái bánh chưng bằng cái bánh Trung Thu, không thịt, không mỡ chỉ có dầu mỡ trộn vào nếp. Một số anh em chia ra làm bốn để ăn mấy ngày Tết cho đở thèm. Tù cộng sản ăn Tết như thế đấy !

Tù buồn cảnh có vui đâu bao giờ ?
Thật ra cái lạnh nơi xứ mình đâu bằng tiết lạnh bên xứ nầy, nhưng vì hoàn cảnh của tù cải tạo ăn không đủ no, mặc không đủ ấm và phải làm lao động khổ sai, nơi ở lại là những dãy nhà mái tranh, vách làm bằng những tấm phên đan bằng tre không kín đáo, nên mùa đông trong các trại tù ở vùng núi rừng ngoài Yên Bái thật là hãi hùng đối với anh em tù chúng tôi.

Chung quanh trại của chúng tôi là núi non trùng trùng điệp điệp với nhiều cây rừng một màu xanh biếc. Lúc mùa đông các dãy núi thường bị mây mù hay sương mờ che phủ nhìn thật là buồn ảm đạm. Dưới chân đồi là con suối, nước chảy quanh năm là nơi anh em tù chúng tôi lấy nước uống và nấu ăn, tắm rửa và giặt giũ. Vào những đêm sáng trăng, dòng nước suối chiếu lung linh đẹp lắm nhưng buồn, vì tù buồn thì cảnh cũng buồn, tù buồn cảnh có vui đâu bao giờ !

Đêm nay trăng chiếu sáng ngời
Mình ta thơ thẩn giữa đồi ngắm trăng
Suối con lấp lánh trăng vàng
Nửa in bóng nước, nửa kia lững lờ
Hồn tôi nửa tỉnh nửa mơ
Lòng buồn tê tái nhớ về đất Nam.
( Minh Châu )

Mùa đông lạnh lẽo mà anh em tù chỉ được bọn bộ đội cộng sản phát thêm cho một cái mền đỏ lói của Trung Cộng nó mỏng te. Đêm đêm gió lạnh cắt da thổi xuyên qua vách tre và mái tranh, nên đêm ngủ anh em tù trùm mền từ đầu đến chân và nằm hai hàng đỏ lòm trên hai sạp tre đối diện nhau, được soi sáng bởi ánh lửa củi rừng chiếu mập mờ, trông giống như hai hàng thây ma trông cũng dễ sợ lắm và buồn não nề !. Khổ nỗi là chúng tôi phải nằm im không dám cựa quậy, vì mỗi lần cựa quậy là hơi lạnh lọt vào lạnh thấu xương.

Mỗi tuần chúng tôi chỉ dám tắm suối có một lần trưa ngày chủ nhựt nếu nắng ráo và nếu được nghỉ lao động. Nhiều người không có can đảm tắm vì rất sợ cái lạnh của nước suối không khác chi nước đá lạnh. Nằm gần bên tôi có người bạn là Trung tá BĐQ, ông ấy sợ lạnh lắm. Ông ấy đã qua đời sau khi được về với gia đình, vì không muốn gợi nỗi buồn của người quá cố nên tôi không tiện nêu tên ông ấy ra. Suốt mấy tháng mùa Đông ông không bao giờ tắm, ông luôn luôn mặc sáu lớp quần áo mà không bao giờ dám cởi tới lớp thứ ba từ trong người đếm ra, để giặc giũ. Quý vị hãy tưởng tượng mỗi ngày lao động nặng thì bao nhiêu mồ hôi thấm rút vào áo quần nó hôi đến cở nào ? Nhưng ăn ngủ và sống chung nhau lâu ngày mình cũng quen cái mùi khó chịu đó đi. Chính mình cũng chẳng sạch sẽ gì lắm, chỉ ít hôi hơn thôi. Cho nên người ta hay nói ở dơ như tù là thế đó.
Sau khi vượt biển tới Mỹ khoảng một tháng tôi xin được việc làm cố vấn tỵ nạn thì được tin anh ấy đã được thả về vì bịnh nặng. Vợ con tôi qua sau tôi một năm và bà xã may mắn cũng tìm được việc làm sau khi tới Mỹ vài tuần tại sở Y tế Monterey. Chúng tôi cố gắng gởi $50 về giúp đỡ anh phần nào vì hai vợ chồng chúng tôi còn nghèo lắm và sáu con nhỏ còn đi học. Không bao lâu sau anh đã qua đời vì đứt mạch máu não.

Trời đã lạnh mà lại đói tả tơi ! mỗi sáng trước khi lao động tù chỉ ăn 2/3 chén cháo lỏng như nước. Nửa giờ sau đi tiểu là chẳng còn gì, lại càng đói thêm. Bọn cộng sản để chúng tôi đói triền miên, đói đến nỗi chỉ nhớ đến miếng ăn còn hơn nhớ vợ con thân yêu. Sau mấy năm đầu bọn cộng sản thấy tù chết nhiều quá mới cho thăm nuôi.

Lúc chúng tôi được đưa về thành Ông Năm Hóc Môn để làm thủ tục lần cuối cùng trước khi thả, những tù cấp Uý nhìn chúng tôi lắc đầu thương cảm vì chúng tôi chỉ còn da bọc xương. Trong khi mấy anh em rất khoẻ mạnh vì họ ăn đủ nhờ thăm nuôi và lao động nhẹ.

Mưa dầm Yên Bái
Miền núi rừng có vẻ đẹp thiên nhiên và rất thơ mộng của miền sơn cước nếu trời trong mây tạnh và nhứt là vào những đêm trăng sáng. Nhưng mùa mưa phùn nơi miền núi rừng ngoài Yên Bái cũng rất dễ sợ, chẳng đẹp đẽ và thơ mộng như các nhà văn hay thi sĩ thường hay tả cảnh đẹp nên thơ của mưa phùn Đalat hay Pleiku mù sương. Hạt mưa phùn ngoài ấy rất nhỏ phải nhìn qua rặng núi xanh mới thấy mưa rơi. Nhưng lao động ngoài trời vài giờ là nước thấm ướt cả áo quần. Trời mưa ban ngày, mưa cả ban đêm và mưa triền miên suốt tháng trời, gọi là mưa thúi đất vì đất phải nổi sình và lầy lội. Đêm về những tiếng ếch nhái và ểnh ương cất tiếng kêu vang như tiếng ai khóc than và rên siết trong cảnh rừng âm u và tĩnh mịch làm cho người tù buồn thấu tâm can !
Chân tôi đi khập khểnh nên thường hay bị té, mà mỗi lần té là phải thay đồ và giặc quần áo khổ lắm.

Rừng hoang cả tháng mưa dầm
Trại tù Yên Bái lặng trầm trong đêm
Suối reo róc rách êm đềm
Côn trùng rên rỉ càng thêm não nùng.
( Minh Châu )

Có rất nhiều anh em đồng đội bị chết vì nhiều nguyên do như chịu không nỗi cái lạnh, cái đói hoặc bịnh hoạn mà không có thuốc chửa trị. Có những bà vợ đi ngàn dậm ra Bắc tìm thăm chồng và khi ra tới nơi mới hay chồng đã chết vì bọn cộng sản không cho thông báo tin về cho gia đình. Các người tù bất hạnh đó đã bị chôn vùi trên những đồi hoang vu hiu quạnh. Tôi xin ghi vài dòng thơ của vợ tôi thuật lại câu chuyện rất thương tâm của một bà vợ ra thăm chồng ngoài đất Bắc. Khi ra đến trại bà mới được tin là chồng bà đã chết, bà chỉ còn thấy nấm mộ đất của chồng nằm trên triền núi heo hút lạnh câm, do anh em tù cải tạo chỉ báo.

Lẻ Bóng

Xót thương ai đắp mộ chồng
Tóc xanh em cắt đắp mồ người yêu
Âm dương hai ngả anh ơi
Chôn anh đất Bắc, em về miền Nam
Ngày xưa lội khắp bốn vùng
Nhọc nhằn gian khổ, cũng về thăm con
Hy sinh giữ nước giữ bờ
Bây giờ lao lý, xương tan chốn nầy
Nghĩ suy thật quá đau lòng
Anh ơi giờ đã bỏ em thật rồi
Từ đây trở giấc canh khuya
Thèm hơi anh ướm, thiếu chăn tình nồng
Một mình một bóng lẻ loi
Lòng sầu tê tái, tuôn dòng lệ rơi
Bốn phương mưa gió não nề
Cốt hài phương Bắc, bóng hồn theo em
Hiển linh phò trợ mọi điều
Cho em vẹn giữ lời thề năm xưa
Rồi đây dầm dãi nắng mưa
Thay anh nuôi trẻ, không buồn cút côi
Lê la khắp chốn đó đây
Khác chi chim nhạn lẻ bầy kêu sương.

( Tuyết Nga )

Tôi không bao giờ quên một cảnh tượng buồn ảm đạm khi chứng kiến hình ảnh của anh em tù cải tạo với vẻ mặt trầm buồn đẩy xác chết của cố Trung tá Tôn, bạn của tôi và là cựu Phó trưởng phòng Nhì Quân đoàn III ở Biên Hoà. Thân xác ông Tôn được lịm vào một quan tài đóng bằng bốn tấm ván gỗ thô sơ. Anh em tù đẩy quan tài của ông Tôn trên một chiếc xe cải tiến, ( loại nhỏ hơn xe bò ) đi trên con đường dốc lúc chiều sẫm tối và chôn ông trên triền núi khi trời đang lất phất mưa. Cố Trung tá Tôn bị chết tức tưởi sau khi ông bị nhốt vào hầm tối vài ngày vì ông đã trốn trại mấy hôm thì bị nhân dân du kích của cộng sản bắt ông lại. Tôi nghĩ là ông bị bọn bộ đội cộng sản man rợ, ác ôn siết cổ chết rồi lên tiếng là ông Tôn thắt cổ tự sát, vì cái hầm tối mà chúng nhốt tù nhỏ như một cái huyệt đào sâu trên triền đồi. Tù chỉ có bò vào rồi nằm chứ ngồi cũng không đựợc làm sao mà dễ dàng dùng dây treo cổ được.

Những hơi thuốc lo sưỡi ấm lòng tù cải tạo
Tội nghiệp cho những ông tù cao niên, họ ngủ rất ít vì lạnh quá không ngủ được. Giữa đêm khuya các ông thường hay ngồi bên cạnh đóng củi lửa đỏ cháy bập bùng giữa hai hàng sạp tre để sưởi ấm cho tù. Nhưng có thấm vào đâu vì anh em tù ngủ trong những dãy nhà tranh không kín đáo đối với cái lạnh và gió buốt của vùng núi cao suốt đêm thổi lòn qua khe lá. Tôi còn nhớ mãi và sẽ không bao giờ quên được hình dáng của cựu Trung tá Đ…. và vài ông nữa, tuổi bằng cha chú của chúng tôi lúc bấy giờ. Mình các ông quấn mền, đầu trùm khăn và mặt mày che kín mích chỉ còn thấy lộ đôi mắt sâu hỏm để nhìn thấy, còn chừa ra lổ mũi để thở và đôi môi tím ngắt lâu lâu hít vài hơi thuốc lào cho đỡ lạnh. Mỗi lần tôi thức dậy vì cần ra ngoài cho vấn đề cá nhân, tôi trông thấy hình dáng của mấy ông thật là ưu sầu . Nếu tôi là hoạ sĩ tôi sẽ vẽ lại một bức tranh bất hủ của cái cảnh mờ mờ ảo ảo giữa đêm khuya với những hình dáng gầy đét xanh xao thật đáng thương của cảnh tù Yên Bái.

Ngồi bên ánh lửa bập bùng
Lòng tù xao xuyến nhớ con, vợ hiền !
Dưới đồi suối chảy triền miên
Đêm nay mưa nhẹ, gió hiu hắt buồn !
Gió đưa những giọt mưa tuôn
Như dòng nước mắt khóc tù xót xa !
Trăng đầy trăng khuyết trăng tà !
Còn bao lâu nữa về nhà vợ con ?
( Minh Châu )

Nghe đọc báo hoặc kiểm điểm công tác trong ngày
Sau buổi cơm chiều mấy anh tù có nhiệm vụ làm trưởng khối phải lên văn phòng trại gặp tên bộ đội quản giáo của khối để nhận lịnh hay nghe lời kiểm điểm và về nói lại cho tù nghe rồi đọc báo. Đây là lúc mà tôi chán nhứt vì báo của chúng nó chẳng có gì để đáng nghe. Cái gì cũng tốt, nhân dân lao động tốt, sản xuất của cả nước luôn luôn vượt chỉ tiêu về mọi mặt mà dân miền Bắc vẫn đói rách triền miên nói chi đến tù cải tạo. Có đôi khi mệt mỏi và buồn ngủ quá tôi ngồi trên sạp tre, ngủ mê đến ngáy to quá. Anh Trung tá Bùi Văn Huấn BĐQ hay đánh thức tôi dậy và nói mầy ngáy to quá tụi nó báo cáo là mầy chết. Anh Huấn là anh ruột của BS Bùi Văn Rậu. Anh Rậu là y sĩ của TQLC lúc xưa và hai anh em đang sống tại San José. Anh Rậu còn hành nghề lại và cũng thường có mặt trong các lần đại hội TQLC.

Đôi lời với các bạn tù Yên Bái
Sau khi chúng ta đã rời trại tù miền Bắc, những ai vì già yếu bịnh tật được thả sớm hơn, rồi kẻ vượt biên, người thì chờ đi diện HO hay đoàn tụ. Bây giờ chúng ta sống rải rác khắp bốn phương trời và lo làm việc tạo cuộc sống mới nên rất ít khi được gặp lại, một số còn sức khoẻ gia nhập vào các hội đoàn hoạt động trong cộng đồng chống cộng hoặc cứu trợ anh em thương phế binh bên nhà và tham gia nhiều công việc thiện nguyện khác vv…Thỉnh thoảng nghe tin buồn là người nầy đã ra đi một cách đột ngột vì lý do bịnh ngặt nghèo, người thì mắc phải bịnh không thể cứu chửa và nằm nhà hoặc nơi viện dưỡng lão để chờ chết. Tôi đang viết đoạn hồi ký này thì được tin buồn do chị Chiêu vợ của Trung tá Lê Quang Chiêu vừa ra đi vì bịnh già yếu. Ông Chiêu ở cùng chung trại và lớn hơn tôi 10 tuổi.
Còn một số trở thành phế nhân và cố lê lết quãng đời còn lại nơi xứ người buồn thật là buồn !

Nhân mùa Đông đến trời đang mưa lạnh và buồn lắm, tôi vừa viết xong thêm vài trang hồi ký và xin chia xẻ cùng anh em chiến hữu và quý vị vài kỷ niệm hãi hùng trong các trại tù nơi rừng thiêng nước độc của miền núi hoang vu Yên Bái, Bắc Việt. Tôi xin có đôi lời thăm hỏi những bạn tù cùng chung cảnh ngộ còn đang sống cuộc đời tỵ nạn khắp nơi và thân mến chúc nhiều sức khoẻ để vui hưởng với con cháu trong những chuỗi ngày còn lại.

Tôi xin nghiêng mình tưởng niệm những người bạn tù đã bỏ thân nơi đất Bắc. Không có gì khổ và nhục cho bằng đời sống tù với bọn cộng sản. Có câu : « Nhứt nhựt tại tù bằng thiên thu tại ngoại », nhưng tôi nghĩ một ngày tù với cộng sản bằng trăm cái thiên thu !

Vài lời kết luận
Sau cuộc chiến mà đồng minh đã rút quân và bỏ lại một miền Nam đau khổ và chúng tôi, những cựu quân nhân và công chức của chế độ cũ bị đày đọa trong các trại tù khổ sai, mất cả nhân quyền của con người.
Các vị cựu Lãnh đạo của miền Nam, các Chỉ huy Cao cấp trong Quân đội của chúng tôi đã bỏ lại các cấp thuộc quyền đang chiến đấu chống trả bọn cộng sản khắp nơi trong lúc một số cấp lãnh đạo đã di tản ra nước ngoài. Và có lẽ vì bận lo ổn định cuộc sống mới cho gia đình nơi xứ người nên không có thì giờ mà nghĩ đến việc cứu sống sống sinh mạng anh em trong tù. Tôi không dám trách ai, nhưng đây là sự phũ phàng của những đồng đội còn ở lại, nhứt là tù cải tạo.
Nước Mỹ đồng minh và cả thế giới đều bỏ mặc hay quên lãng chúng tôi ? mặc tình cho bọn cộng sản tha hồ đày đoạ. Chúng tôi đã từng ngày mong ngóng và lắng nghe những tiếng nói của các vị đã di tản đi trước và tình hình thế giới bên ngoài với lương tri nhân loại sẽ binh vực và cứu giúp chúng tôi. Nhưng niềm mong đợi của chúng tôi chỉ là sự tuyệt vọng. Tôi tưởng chừng như Việt Nam lúc bấy giờ bị bức màn sắt ly cách với thế giới bên ngoài. Tha hồ cho bọn cộng sản là kẻ chiến thắng mặc tình thao túng. Tôi nghĩ rằng nếu thế cờ chính trị quốc tế đảo ngược, miền Nam thắng cuộc thì miền Bắc sẽ không có những trại tù dã man như thế nầy. Bọn Cộng sản cũng là con người nhưng lòng dạ của chúng thật dã man còn hơn loài súc vật.

Tôi xin tặng một bài thơ đơn giản sau đây diễn tả nỗi lòng u uất của của người sống kiếp người lưu vong :

U Hoài

Ta sẽ về đập quân thù tan vỡ
Từ khi chúng vào phá nước tan tành
Đồng bào khốn khổ bởi lũ gian manh
Nước nhà hỗn loạn như con bão vũ

Nước mắt quê hương như dòng nước lũ
“Anh hùng lỡ vận tuẫn tiết máu đào“
Chết vinh hơn sống nhục đấng anh hào
Giang sơn gấm vóc ngàn năm tang điếu

Ta muốn thét lên muôn ngàn âm điệu
Vang tận trời cao rung cảm thiết tha
Cứu khổ trần gian non nước thái hoà
Cho dân Việt đón mừng mùa Xuân mới

Đã xa quê lâu rồi ta vẫn đợi
Ngày trở về ca hát giữa quê hương
Khúc ca khãi hoàn chan chứa tình thương
Và ta bỏ nắm tro tàn nơi đó ?

Bao nhiêu năm ta thở dài trăn trở
Xe lăn mỏi mòn sức lực tàn phai
Nỗi buồn nhớ nhà khắc khoải u hoài
Phải nhận đất nầy làm nơi huyệt mộ !?

Nguyễn Minh Châu TĐ3 Soibien – Quận Dĩ An

HOÀNG SA

"Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát" đã có phiên bản tiếng Việt

Các bạn thân mến,
Tôi rất vui mừng báo tin với các bạn rằng, nhờ sự hỗ trợ kỹ thuật của một số thân hữu của tôi, kể từ hôm nay, các bạn có thể vào youtube để xem trọn bộ phim"Hoàng Sa Việt Nam: La meurtrissure, Painfull loss, Nỗi đau mất mát", phiên bản tiếng Việt. Xin các bạn truy cập theo đường link sau đây: http://www.youtube.com/watch?v=FaWNlxJ9OZo
Bất chấp việc cấm đoán thô bạo của chính quyền ở TP. HCM, và sau đó là thái độ im lặng khó hiểu của họ khi tôi đề nghị được giải thích, bất chấp việc tôi không thể nào tiếp cận được với các giới chức đã trì hoãn buổi chiếu phim của tôi ở Hà Nội, cuối cùng bộ phim cũng được phổ biến rộng rãi cho mọi người Việt Nam trong nước cũng như trên toàn thế giới.
Không ai có thể ngăn chận mãi tiếng nói của sự thật!
Tôi hy vọng bộ phim mà tôi đã hoàn thành với tất cả tâm huyết này sẽ mang đến cho mọi người cái nhìn khái quát và chân thật về tình cảnh khốn khó và đầy hiểm nguy mà các ngư dân cùng người thân của họ đang phải đối mặt từng ngày, từ đó các bạn sẽ có hành động hỗ trợ về tinh thần cũng như vật chất, nhằm góp phần xoa dịu nỗi đau thương mất mát của đồng bào ta.
Về phía mình, tôi long trọng cam kết sẽ là nhịp cầu nối đáng tin cậy cho hoạt động tương thân tương ái này, với sự đảm bảo và giúp sức tận tình của các bạn bè của tôi...
Hồ Cương Quyết - André Menras
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

http://boxitvn.blogspot.com/2011/12/sa-viet-nam-noi-au-mat-mat-co-phien-ban.html

21/12/2011

André Menras: Không ai có quyền ngăn cấm tôi vì tình yêu thiêng liêng đó!

Ngự Hà
Sau khi bộ phim “Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát” bị cản trở không cho phép chiếu tại Khu Du lịch Văn Thánh, TP.HCM, ông André Menras Hồ Cương Quyết, biên kịch và đạo diễn phim, đã có thư gửi đến UBND TP.HCM đề nghị một lời giải thích. Sau đó, ông phải bay ra Hà Nội kịp làm hậu kỳ bộ phim về cuộc đời của ông “André Menras: một người Việt Nam” do Hãng phim Tài liệu Khoa học Trung ương thực hiện.
Tôi liên lạc qua điện thoại, André cho biết hiện ông đang ở Hà Nội và “cái rét với độ ẩm cao ở đây thật khó chịu”, André nói. Hà Nội đang trở đông, rét của mùa Giáng Sinh, buốt giá và tê tái. André có mang đủ áo ấm không? “Không, chẳng có chiếc áo nào vì không nghĩ ở đây đến giờ này . Thế nhưng, ông lại từ chối mua tạm một chiếc áo ấm “made in China” tại Hà Nội để chống cái lạnh của miền Bắc. Câu chuyện của chúng tôi, vô tình lại trở về bộ phim đang gây dư luận
Thưa ông, bộ phim “Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát” được hoàn thành chính xác là tháng nào? Ông mất bao lâu để hoàn thành từ ngày xin phép đến khi khởi quay và hoàn tất?
Tôi bắt đầu thực hiện phim nay từ tháng 6 năm nay tại xã Bình Châu và Lý Sơn với sự giúp đỡ kỹ thuật của Hãng phim TFS (Đài Truyền hình TP.HCM). Đặc biệt là sự ủng hộ tuyệt đối của nguyên Chủ tịch nước, các lãnh đạo cao cấp của Bộ ngoại giao (văn bản do bà Nguyễn Phương Nga ký). Quá trình thực hiện phim tại chỗ có sự hướng dẫn của Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Ngãi, lực lượng an ninh của huyện đảo Lý Sơn… Phim được dựng tại Hãng phim TFS (Đài Truyền hình TP.HCM) và Sở Ngoại vụ TP.HCM duyệt với sự đồng ý của Bộ Ngoại giao Việt Nam. Trong công văn kết luận của Sở có viết: “Nội dung không vi phạm Luật báo chí Việt Nam” (Giấy phép xuất nhập sản phẩm báo chí số 155/SNV- VHTT-VHP ).
Ngoài lần trở lại làm phim, trước tháng 6, tôi đã có 4 lần đi đến Bình Châu và Lý Sơn để khảo sát, có lần đến ở lại cả tháng. Ngoài ra, trước khi thực hiện phim này, có thể nói tôi đã mất 5 năm nghiên cứu tìm hiểu kỹ về lịch sử Việt Nam gắn với biển đông, Luật quốc tế biển, văn hóa của ngư dân địa phương…
Như vậy, ông gặp khá thuận lợi khi lần đầu tiên tự làm một phim về ngư dân Việt Nam. Nếu tự đánh giá về bộ phim này, ông sẽ nói thế nào?

Một số bạn bè làm phim của tôi tại Việt Nam còn nói rằng, đây là phim đầu tiên nói về ngư dân gắn với biển Hoàng Sa thấm đẫm tình người, sống động mà chưa có đài truyền hình nào tại Việt Nam thực hiện. Theo tôi, bộ phim này hoàn toàn khách quan và có thể nói là khoa học, được sự của nhiều người chuyên nghiệp trong giới đạo diễn và làm phim. Những nhân vật trong phim là các cháu bé mồ côi cha, những bà vợ góa chồng ở đảo Lý Sơn và Bình Châu. Những lời nói, hành động và nỗ lực sống tồn tại của họ phản ánh nét độc đáo về văn hóa, tính dân tộc… Họ hoàn toàn không phát biểu mang tính chính trị, rất tự nhiên và nhân văn.


Trở lại vấn đề, phim lại không được phép chiếu cho tôi thấy 2 điều: Có thể những người phụ trách nội dung thông tin không muốn đồng bào biết nhà cầm quyền Trung Quốc, đặc biệt là hải quân của họ đã hành hạ, thậm chí khủng bố ngư dân của mình tại vùng đảo Hoàng Sa nghiêm trọng đến thế nào. Dường như họ nghĩ nếu nói ra những sự thật này sẽ gây tâm trạng lo lắng, nghi ngờ, hoang mang trong dân chăng?

Theo tôi, nếu đúng như vậy thì bản lĩnh chính trị của anh, người quản lý văn hóa quá tệ! Sợ gì lại đi sợ tiếng nói của những bà vợ góa trong tay không có gì và chỉ biết mưu sinh lay lắt qua ngày. Điều thứ 2, nhận xét thật nghiêm túc, có lẽ nhà nước Việt Nam, Đảng Cộng Sản Việt Nam chưa có một chiến lược cụ thể và hoàn chỉnh để bảo vệ thật hiệu quả ngư dân của mình, trong khi đó lại khuyên ngư dân nên tiếp tục bám biển một cách liều mạng. Thật vô lý quá , sao bắt chẹt ngư dân đến vậy?


Theo ông, tại sao tư liệu này không được chiếu rộng rãi. Sự im lặng từ phía UBND TP.HCM có đúng dự đoán của ông trước khi ông gửi thư đến họ?

Tôi nghĩ rằng, những mảng màu tối nhiều hơn sáng, những khó khăn chồng chất của các gia đình có con mất cha, vợ mất chồng (mà lý do chính là từ phía Trung Quốc gắn với vùng biển Hoàng Sa) cho thấy những thiếu sót, hoặc sự vô cảm của người quản lý. Thật đáng thương khi biết những ngư dân ở đây không có tiền để sửa nhà, chẳng có tiền để làm mộ gió cho chồng đã bỏ mình ngoài khơi Hoàng Sa. Nói chung, trách nhiệm của chính quyền đối với ngư dân ngược lại với những lời nói hô hào sáo rỗng mà chúng ta thường nghe thấy.

Còn về các lực lượng “an ninh” (!?) đã đối xử tồi tệ và im lặng không có hồi âm tại SAIGON, tôi cho rằng, họ không phải là những người đại diện cho dân, không có tinh thần để bảo vệ mà đã làm điều ngược lại. Cho đến nay, không một ai đã có chút dũng cảm tối thiểu để ra mặt, chịu trách nhiệm về hành động phi pháp và thô bạo đó. Nói thật, tôi rất thất vọng khi ông Chủ tịch Lê Hoàng Quân không có trả lời nào dù tôi đã gửi thư đến ông ấy. Giữa chúng tôi từng là bạn bè, quen biết nhau đã lâu thế mà…

Có thông tin ông xin phép được chiếu phim tại Hà Nội nhưng vẫn chưa được trả lời?
Hà Nội biết rất rõ vấn đề. Kể cả ông Thư ký của Bộ trưởng Văn hóa Thể thao và Du lịch, người có thẩm quyền cho phép chiếu phim ấy đều đã nắm bắt được sự việc vì ít nhất hai người bạn của tôi đã tiếp xúc trực tiếp với họ. Suốt buổi sáng thứ 2 đầu tuần nay, tôi đã cố gắng làm thủ tục xin phép theo đúng qui định. Từ cơ quan Hãng phim Tài liệu Khoa học Trung ương, tôi đã đến Cục Điện ảnh, rồi trở lại Hãng phim tài liệu… Có người bảo tôi phải đi gặp Bộ Ngoại giao tại Hà Nội. Rồi có người nói tôi phải trình bản gốc DVD tại TP.HCM nơi mà phim được sản xuất.

Sau đó, lại có người khuyên nên gửi DVD về Quảng Ngãi, nơi phim được quay, để địa phương duyệt… Tôi chán quá, bỏ về. Tôi chỉ thấy rõ điều này: Không ai muốn chịu trách nhiệm và cố tình kéo dài thời gian chờ đợi cho đến khi tôi về nước luôn và từ bỏ ý định giới thiệu phim này tại Việt Nam (đính kèm đây là lá thư tôi đã viết để xin phép mà KHÔNG CÓ AI quan tâm hứa sẽ gửi cho cấp trên xem xét…). Vì lý do đó, tôi đoán mình cũng khó thành công vì không ai nhận lãnh trách nhiệm, đòi hỏi những thủ tục rồi đùn đẩy vô lý và vô cảm đó, cuối cùng tôi đành phải đưa phim lên mạng để người Việt Nam trong và ngoài nước có thể xem.

Ngày xưa, trong lao khám tù khắc nghiệt, chiếc radio của tôi vẫn được chuyền từ đất liền ra Côn Đảo và mang lại nguồn thông tin quý giá cho các bạn tù. Chiếc Radio đó nay nằm tại Bảo tàng Cách mạng Hà Nội. Tôi từng viết trên báo Thanh Niên, rằng, trong bất cứ hoàn cảnh nào, dẫu ngặt nghèo và tồi tệ đến đâu, cũng không ai có thể ngăn cấm được thông tin về cuộc sống và những trăn trở của ngư dân đảo Lý Sơn và Bình Châu.
Vậy ông có dự định tiếp tục chiếu phim này tại Pháp và các nơi khác không?

clip_image003
Dự định của tôi rất rõ. Tôi sẽ làm hết mình như đã hứa với ngư dân ở Bình Châu và Lý Sơn. Tức là tôi đã để họ nói những trăn trở. Không ai có thể ngăn chận được tôi thực hiện việc này. Tại Pháp, phim đã được chiếu cho cộng đồng bạn bè người Pháp và Việt kiều Pháp xem trong hội thảo về biển đông ở Paris. Sắp tới, ngày 19.1.2012, phim sẽ được công chiếu tại Paris cho giới báo chi với sự ủng hộ của Hội Hữu nghị Pháp Việt, Trung tâm thông với sự ủng hộ của Hội Hữu nghị Pháp Việt, Trung tâm Thông tin về Việt Nam, Tổng Liên hiệp Việt kiều tại Pháp. Sau đó là tại thành phố Lyon, Toulouse, Montpellier và một vài thành phố lớn khác.

Cũng có một người bạn giới thiệu một kênh truyền hình ở Mỹ đề nghị được chiếu. Nếu có điều kiện, tôi sẽ đi bất cứ nơi nào để quảng bá phim này, mang tiếng nói của những gia đình ngư dân miền Trung, đã bị Trung Quốc ức hiếp, ra với thế giới.


Dường như lịch sử đang trở lại, trước đây, sau 2,5 năm tù sau sự kiện treo cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam, ra tù, ông đã viết sách và đi đến 17 nước trên thế giới để tố cáo tội ác của quân đội Mỹ. Nay ông sẽ đi đến nhiều nước để tố cáo tội ác của Trung Quốc đối với ngư dân Việt?


Ôi, so sánh như vậy thật không nên. Tôi không muốn so sánh, nhưng, nếu chúng ta không cương quyết và không tỏ rõ lập trường, thì nguy cơ bị xâm lược trên đất liền, ngoài lãnh hải, trong kinh tế, chính trị, văn hóa… là rất dễ xảy ra và đã xảy ra.
Một câu hỏi cuối, điều gì ông muốn chia sẻ với người Việt qua phim này?
Việt Nam cũng là quê hương tôi. Tôi chỉ muốn nói, tôi không phải là hiệp sĩ, cũng không phải là gây ra nguy cơ cho ai đó. Tôi thật sự yêu mảnh đất này đến điên (dù mắt xanh mũi lõ). Trong chiến tranh, một phần cuộc đời của tôi đã gắn bó với đất nước này, nay Việt Nam đang phát triển, tôi không bao giờ đứng im trước xâm lấn của bất cứ quốc gia nào. Và không ai có quyền ngăn cấm tôi vì tình yêu thiêng liêng đó!


clip_image005


Như vậy, cuối năm nay ông có kịp về Pháp dự Lễ Giáng sinh và đón Năm Mới với gia đình không?
Gia đình nhỏ của tôi và mẹ già gần 90 tuổi của tôi đang ở Pháp. Thật lòng tôi thấy mình có lỗi và như đang bỏ rơi họ vào dịp lễ quan trọng này. Tuy nhiên, khi nghĩ đến hoàn cảnh các gia đình đã bị mất chồng, mất con trai lớn, tài sản, bị ức hiếp tại vùng biển miền Trung, thì tôi lại nghĩ, cá nhân tôi và gia đình tôi cần phải hy sinh thêm một chút nữa. Bởi những hy sinh đó cũng không bằng những hy sinh lớn lao của họ. Nói một cách nào đó, họ cũng như chúng ta, họ xứng đáng hưởng một cuộc sống hạnh phúc và công bằng chứ.
Rất cảm ơn ông và rất mong người dân Việt Nam ở trong và ngoài nước, được xem phim đầy tính nhân văn “Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát” trong ngày gần nhất.
N. H.
20/12/2011
http://boxitvn.blogspot.com/2011/12/andre-menras-khong-ai-co-quyen-ngan-cam.html#more

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi Đau Mất Mát — La Meurtri...

By hoangsavietnam2011| 1 video




HỒ NAM *THƯ VIỆT NAM


THƯ VIỆT NAM
HỒ NAM
LTS
Tình cờ tìm thấy trên Viễn Tượng Việt Nam có bài này của Hồ Nam viết từ 2005. Xin phép ông Hồ Nam cho chúng tôi được đăng lại bài này, và xin giới thiệu cùng độc giả

Bạn quí mến,
Được bạn cho biết nhà văn Nguyễn Sĩ Tế quí mến của chúng ta đã rời cõi thế này về cõi vĩnh hằng hưởng thọ 83 tuổi sau hơn mười năm làm người tỵ nạn ở Mỹ viết tiểu thuyết và làm thơ đươc khá nhiều thơ. Nguyễn Sĩ Tế là cây bút chủ chốt của nhóm Sáng Tạo trong những thập niên 50, 60, 70 của thế kỷ trước và là một trí thức dấn thân với chế độ nào thấy bất bình ông cũng lên tiếng phản đối và bị bắt giam vô cớ và ở tù lâu nhất là trong chế độ Cộng Sản Việt Nam.

Nguyễn Sĩ Tế thực ra chỉ là một ‘’văn nhược’’ một thầy giáo chiền từ một nhà thơ ít nói một nhà văn ghét sự ồn ào viết không nhiều nhưng đâu ra đó. Khi Nguyễn Sĩ Tế làm chủ bút tờ báo Lửa Việt của Đòan sinh viên Hanội di cư vào Saigon ông đã khám phá ra thiên tài Mai Thảo, chính ông là ngưòi viết lời giới thiệu truyện ngắn đầu tay Đêm gĩa từ Hànội của Mai Thảo và cũng chính ông là lý thuyết gia của phong trào thơ tự do bên cạnh thiên tài Thanh Tâm Tuyền.Cuộc đời tám mươi ba năm của Nguyễn Sĩ Tế viết nhiều nhất là những năm cuối đời những năm sức khỏe suy sụp vì những trại tù Gia Trung, Hàm Tân.

Về văn học nghệ thuật Nguyễn Sĩ Tế đã đi vào lịch sử bằng cửa lớn. Về làm người Nguyễn Sĩ Tế đã xứng đáng là một kẻ sĩ luôn bất khuất sẵn sàng dấn thân dám nói thẳng nói thật trước những kẻ cầm quyền ngang ngược.Việc Nguyễn Sĩ Tế không còn hiện diện nơi cõi thế này nữa là một tổn thất khá lớn cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam vì trước khi qua đời Nguyễn Sĩ Tế đang viết dở dang một bộ trường giang tiểu thuyết mà ông rất tâm đắc.

Cùng với thời gian Nguyễn Sĩ Tế ra đi về cõi vĩnh hằng làng cách mạng làng chính trị û Việt Nam cũng mất một nữ chiến sĩ cách mạng xuất sắc đó là bà Đức Thu nhũ danh Đặng Thị Hòan người đã từng sát cánh với những lãnh tụ cách mạng Lý Đông A, Trương Tử Anh phất những ngọn cờ Dân Tộc Sinh Tồn,Duy Dân Thắng Nghĩa rồi cùng Đức hộ pháp Phạm công Tắc phất ngọn cờ Thống nhất Tòan Lực quốc gia người mà nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền gọi là ‘’nữ anh kiệt’’. Suốt thời gian tại thế 93 năm bà Đức Thụ luôn là chất men tác động phong trào cách mạng Việt Nam tiến tới nhất là những lúc thóai trào.

Bà Đức Thụ là một phụ nữ nhan sắc và đảm đang nhưng luôn sống vì người khác khi cách mạng tiến trào bà không chịu nhận một địa vị nào khi cách mạng thóai trào bà luôn làm công việc’’thiên hạ’’ bằng tiền túi của mình không một lời than van ngắn dài nào cả,chỉ với một mục đích duy nhất làm sao dân tộc mở mày mở mặt đất nước đưng lên giầu mạnh thịnh vượng và chỉ thế thôi.

Khi sống lưu vong tại Mỹ dầu đã lớn tuổi nhưng bà Đức Thụ vẫn hăng hái làm việc nước bà đi khắp nơi kêu gọi anh em cách mạng ngồi lại với nhau nói chuyện với nhau tìm giải pháp cho đấtnước thóat nghèo đói lạc hậu thóat chế độ tòan trị để dân có quyền dân người có quyền người và mọi ngừời được bình đẳng về cơ hội phát triển những tiếng nói khác nhau được tôn trọng.

Bà Đức Thu mất đi làng cách mạng làng chính trị Việt Nam mất một chiến sĩ cách mạng hết lòng vì nghĩa lớn không mảy may tư lợi,một chính khách dấn thân không vì mục đích nào khác hơn là đem lại tự do dân chủ và phúc lợi cho người Việt Nam Phụ nữ Việt Nam lớn tuổi ở trong nước cũng như ở hải ngọai chắc chỉ có bà Trùng Quang là có thể sánh được với bà Đức Thụ thôi.

Trong khi hải ngọai mất hai nhân vật thì quốc nội Giản Chi Nguyễn Hữu Văn cũng ra đi về cõi vĩnh hằng ở tuổi 102. Giản Chi là một chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng cùng thời với Nguyễn Thái Học người được bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ rất tin tưởng,những năm giữa thập niên 50 Giản Chi còn ở tầng hầm nhà bưu điện Saigon chúa nhật nào bác sĩ Nguyễn xuân Chữ và kẻ viết những dòng này cũng gặp nhau tại nhà Giản Chi bàn chuyện thời thế.

Giản Chi là người quốc gia nhưng lại mê văn chương Mac xít của mấy nhà văn thiên ta người Tầu như Lỗ Tấn Lão Xá. Thời gian này Giản Chi đã cùng tôi và Đông Xuyên chủ trương tuần báo Cải Tiến, Giản Chi dich Người Phu Xe của Lão Xá và bị bác sĩ Trân Kim Tuyến làm rắc rối sai trung úy ‘’mật vu’’ Lê Phưong Chi tới mở cuộc điều tra và sau đó áp lực Cải Tiến phải ngưng xuất bản.

Giản Chi bắt đầu viết sách triết học Trung Quốc và ông mời Trương Văn Chính (Trình Quốc Quang) hợp tác vì phục Trưong Văn Chính cùng là dân bưu điện giỏi hơn Giản Chi có danh hơn Giản Chi nhưng Trương Văn Chính chỉ hợp tác một thời gian thì lại giới thiệu Nguyễn Hiến Lê thay thế.

Từ khi Giản Chi có Nguyễn Hiến Lê bên cạnh thì ông bắt đầu nổi. Theo Giản Chi nói với tôi thì ông chỉ là người tự học làm sao chữ Hán sánh được với những người như ông ’’nghè’’ Nguyễn Sĩ Gíác hay ‘’thầy khóa’’ Á Nam Trần Tuấn Khải những người có cắp sách đến nơi cửa Khổng sân Trình nên ‘’bí’’ cái gì ông phải đi ‘’Chợ lớn’’ gặp ông Sầm hỏi ông Sầm là một chiến sỉ Quốc Dân Đảng lưu vong được Giản Chi coi như cuốn tự điển ‘’sống’’ ông sống ở gần cầu Chà Và và thú vui duy nhất cuối đời là uống trà ngon. Chính cái nhân vật tên Sầm đã giúp Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê viết những bộ sách đồ sộ ’’ẵm’’được những giải thưởng văn chương.

Đời Giản Chi có điều ân hận lớn là vì mê văn chương Mác xít đã cản cậu con trai duy nhất người di tản từ Đà Lạt về Saigon không di tản sang Mỹ khiến con phải đi tù ‘’cải tạo’’. Cuối đời Giản Chi sống cô đơn một mình dù ông có tới hai giòng con ông nói tại số tử vi của ông như vậy biết làm sao lúc này ông hết mê văn chương Mác xít ‘’mê’’ Phật Gíáo dịch thơ’’Phật’’ của Vương Duy.

Tôi với nhà thơ Thanh Vân Nguyễn Duy Nhường thấy thương ông quá đã bỏ công sức và tiền bạc ra in tập thơ Nỗi Lòng cho ông rồi tổ chức kỷ niệm sinh nhật lần thứ 90 cho ông. Đau cho Giản Chi là khi ông qua đời không có người con nào bên cạnh và mấy con ‘’kên kên’’đã đem xác ông vào nhà tang lễ của chúng nó để ‘’ăn có’’.


Trung tuần tháng 11 vừa rồi đạo Cao Đài đã kỷ niệm 81 năm khai đạo một tôn giáo có tính cách hòa đồng tôn giáo và là một phát kiến bằng ‘’cơ bút’’ của những nhà trí thức ở miền Nam Việt Nam dịp này tôi có trao đổi với ‘’thừa sử’’Lê Quang Tấn một chức sắc Hiệp Thiên Đài người mà Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã làm di chúc nói rằng Thừa Sử Lê Quang Tấn có thiên mạng mạng dìn giữ giềng mối cũng như phát triển đạo Cao Đài tòa thánh Tây Ninh.

Thừa sử Lê Quang Tấn cho tôi biết năm 2000 ông đã thuyết trình qua mạng Internet tại Đại hội Thượng Đỉnh Tôn Gíáo Hòa Bình Thế Giới họp tại trụ sở Liên Hiệp Quốc ở Nữu Ứơc (Mỹ) giải trình về đạo Cao Đài. Bản thuyết trình đươc dịch ra tiếng Anh và tiếng Pháp đã nêu rõ ’’Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (Đạo Cao Đài) do Đức Cao Đài Thượng Đế dùng huyền diệu Cơ Bút khai sáng tại nước Việt Nam từ năm Bính Dần(1926),’độ dẫn’’ một số tín hữu là năm triệu người Tổ Đình thờ Đức Chí Tôn và đền thờ Đức Phật Mẫu được lập thành tại Thánh Địa Tòa Thánh Tây Ninh.

Đức Cao Đài Thượng Đế dùng huyền diệu Cơ Bút lập thành Luật Pháp của Đai Đao là Tân Luật và Pháp Chánh Truyền để làm qui củ chuẩn thắng cho Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh truyền giáo. Với chủ trương diệt trừ mê tín dị đoan bất nạp bóng chằng phù thủy-Bổn đạo chung hòa mọi tín ngưỡng và tùy khả năng tiến hóa của mỗi hạng người và phong tục của mỗi địa phương mà phổ độ. Tôn chỉ của Đại ĐạoTam Kỳ Phổ Độ là dìu dẫn quần sanh trên con đừong xử thế lấy luân lý và triết lý làm yếu tố.

Luân lý thì dạy Con người giữ Đạo Nhơn Luân, làm tròn bổn phận mình,đối với mình đối với bản thân mình,đối với gia đình,đối với xã hội-là gia đình rộng lớn,đối với tòan cả thiên hạ là Đại Đồng Huynh Đệ. Triết lý thì cấm xa hoa phung phí tránh bả lợi danh trọng duy tâm hơn duy vật, xả phú cầu bần xả thân cầu Đạo đặng giữ cho tâm thần được thơ thới nhẹ nhàng. Gíáo lý của đạo Cao Đài là chuyên về tín ngưỡng và tu trì, dìu dắt quần sanh trên con đường xuất thế.

Tín ngưỡng thì dạy thờ Đấng Tạo Đoan là Trời là Ngọc Hòang Thượng Đế,Chúa Tể Càn Vũ Trụ sùng thượng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đã dày công giáng trần độ thế. Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ cũng như các tôn giáo nhìn nhận linh hồn bất diệt và tồn tại mãi theo định luật quả báo,có vay có trả phải chuyển kiếp luân hồi đền nợ tiền khiên đặng lần bước trên con đường sáng suốt cho tới cõi Hư Linh Hằng Sống. Cửa Đại Đạo luôn rộng mở tiếp rước bá tánh thập phương không phân biệt sang hèn nghèo giầu.


Nền đạo Cao Đài là như vậy nhưng chức sắc cao cấp như Thừa sử Lê Quang Tấn người từng sát cánh với Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa phò Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc’’lưu vong’’ sang Căm bốt đấu tranh cho tòan nhân lọai Hòa Bình Chung Sống, cho một Việt Nam Trung Lập. Chủ trương này từng được Hồ Chí Minh rồi Tôn Đức Thắng hết lời ca ngợi nhưng chiến tranh Việt Nam vừa kết thúc thì Thừa Sử Lê Quang Tấn bị đi tù ‘’cải tạo’’ nhiều năm ở những trại tử tù rồi ông trở về bi làm khó dễ trăm bề khi được Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc mời đi dự Đại Hội Thượng Đỉnh Tôn Gíao Hòa Bình Thế Giới tại trụ sở Liên Hiệp Quốc đã không được chính quyền tòan tri ở VN từ chối cấp hộ chiếu xuất cảnh Hàng ngày Thừa sử Lê Quang Tấn làm công việc gìn giữ và phát triển giềng mối đạo Cao Đài tòa thánh Tây Ninh ở thánh thất Cao Đài Saigon nằm trên đường Trần Hưng Đao quận năm.


Gặp ông mỗi tuần tôi thường hỏi tình hình phat triển đạo Cao Đài trên hành tinh này thế nào. Ôâng cho tôi biết’’cái họa cộng sản ‘’đã làm cho nhiều chức sắc Cao Đài khốn khổ nhưng lại là dịp cho Đạo Cao Đài phát triển mạnh trên hành tinh trái đất này vì người Cao Đài vượt biên đi tỵ nạn cộng sản đã đem đạo đi khắp nơi trên hành tinh trái đất.

Thánh thất Cao Đài của Đạo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh ở nước ngòai trước năm 1975 chỉ có ù ở Pháp ở Nhật ở Căm Bốt nay thì hầu như khắp hành tinh trái đất này đều có thánh thất Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh và tín hữu không phải chỉ có người Việt Nam mà có cả người Mỹ người Nga người Pháp người Đức người Nhật người Trung Quốc người Úc đại lợi người Ấn Độ người da vàng da đỏ da nâu da trắng da đen đủ cả theo thống kê mới nhất thì số tín hữu Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh người nước ngòai đã lên tới cả triệu và còn đông thêm nữa vì Đạo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh là Tôn giáo ’’mở’’ thờ Phật thờ Chúa thờ Thần thờ Thánh thờ Tiên và không bài xích bất cứ tín ngưỡng nào.

Hơn bất cứ tôn giáo nào trên hành tinh trái đất này Đạo Cao Đài có hẳn một cơ quan là Bát Qúai Đài chuyên làm công việc cầu’’cơ bút ‘’ tiếp xúc với các đấng bậc ‘’khai đạo’’ như Lý giao tông như Cao Đài Tiên Ông để giữ gìn giềng mối đạo cũng như phát triển Đạo. Năm xưa không tiền không kiến trúc sư không công trình sư chỉ nhờ ‘’cơ bút’’ mà Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã xây dưng được Tòa Thánh Tây Ninh đồ sộ. Ngày nay trước sóng gió thời đại’’cơ bút’’ bi người cộng sản công khai cấm nhưng ‘’cơ bút’’ vẫn tồn tại và tiếp tục tồn tại để hiện đại hóa Đạo Cao Đài vì lấy’’ tự nhiên ‘’chống ‘’siêu nhiên’’ lấy cái nhất thời chống cái muôn đời thì chỉ có thua thôi.

Mỗi khi ngồi nói chuyện với Thừa Sử Lê Quang Tấn là tôi lại nhớ tới Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc một nhân vật lúc nào cũng xưng là bần đạo. Tôi nhớ 51 năm trước nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền người bạn tù Mã Đảo của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc dẫn tôi và thi sĩ Nguyễn Vỹ đi tham quan Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh sau đó vào yết kiến Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc được ngài tiếp khá trọng thị và trong trao đổi tôi và thi sĩ Nguyễn Vỹ tỏ ra khâm phục Đức Hộ Pháp.

Ngài hỏi chúng tôi có thể đại diện Cao Đài làm bộ trửơng được không chúng tôi đã trả lời không thích làm bộ trưởng chỉ thích viết văn viết báo Đức Hộ Pháp cười và vỗ vai nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền rồi phán rằng’’ ông chọn bạn vong niên hay lắm’’ ông không thích danh lợi đã đành bạn ông cũng vậy Đạo Cao Đài có được những tín đồ như ông và bạn ông chắc sẽ phát triển mạnh nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền cười và nâng ly rượu Rhum Saint James pha nước mía tươi và nước đá làm một hơi rồi nói Cao Đài hay lắm nhưng chắc kiếp sau mình mới ‘’tu’’ được kiếp này mình bận viết lách và làm cách mạng.

Hồ Nam
12.2005

Trich Viễn Tượng Viet Nam số tháng 12-2005


VẠN MỘC CƯ SĨ
bình luận


Bài này ,ông Hồ Nam viết năm 2005, nay tình cờ tìm thấy trên Tạp Chí Viễn Tượng Việt Nam của Đoàn Viết Hoạt. Ông Hồ Nam ở Việt Nam đã gửi bài cho ông Đoàn Viết Hoạt kết quả ông bị Cộng sản bắt giam một thời gian dài theo như tờ báo An Ninh Thế giới của Công An Việt Cộng. Bài viết của Hồ Nam cho tôi vài tia sáng về một vài nhân vật Miền Nam mà tôi đã gặp. Tôi xin trình bày cùng chư độc giả.

1. Về ông Giản Chi

Trong bài trước, viết về ông NGUYỄN DUY CẦN, tôi có nói đến một ông già trên 70 được Việt Cộng cho về nghỉ, ông ta còn cầu xin ở lại để được học tập tiến bộ, ông luôn luôn chạy theo Lý Chánh Trung hy vọng được ở laị dạy Văn Khoa, sau này thành Tổng Hợp. Người đó chính là cụ Giản Chi.

Xưa nay tôi cứ tưởng ông viết Nho, Lão, Phật thì chắc là lễ nghĩa liêm sỉ đầy mình nhưng mà sau khi Việt Cộng vào thì rõ mặt nịnh hót hèn hạ. So với Nguyễn Duy Cần thì ông không bằng cái gót chân của Thu Giang. Nay đọc bài của Hồ Nam mới biết là ông ta đã yêu Marx từ lâu , đã " thờ Mao Chủ tịch và Stalin bất diệt" như lời Tố Hữu chứ không phải là nịnh hót. Ông theo Marx tâm phục khẩu phục, kính lạy tụi quân quản và tụi nằm vùng thật sự chứ không giả dối như Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải! Tại sao ông không vào cục R mà làm bộ trưởng như Trương Như Tảng, như Nguyễn Văn Kiết! Tiếc quá trời ơi! Ông ta quả là một chiến sĩ vô sản đầy mình cho nên khi nhắm mắt được tụi Saigon cúng tế! Nguyễn Hiến Lê là một tay nằm vùng . Ai không tin thì đọc Hồi Ký của ông ta thì rõ! Người tây phương có câu:"Hãy cho tôi biết ông chơi với ai thì tôi sẽ nói cho ông biết ông là người thế nào ". Ông chơi với Nguyễn Hiến Lê thành thử ông trở thành đỏ.! Cũng có thể hai ông là đồng chí với nhau từ lâu, đúng là " ngưu tầm ngưu, mã tầm mã"!
Sau 1975, nhiều tay Việt Cộng trong trường được điều đi công tác nơi khác. Một vài tay múa may quay cuồng bên cạnh Lý Chánh Trung. Một vài ông không phải nằm vùng cũng đeo băng đỏ quân quản lượn qua lượn lại " hồ hởi phấn khởi" trong đó có một vị tu hành. Nhưng vài ngày sau đám tự động đeo băng đỏ không còn đeo băng đỏ nữa, và các linh mục, thượng tọa được trả về cho tôn giáo. Có một vài kẻ nằm vùng được ban quân quản chọn làm tổ trưởng, tổ phó cai quản đám giáo sư ngụy. Không biết đàng sau họ ăn nói như thế nào chứ trước mặt chúng tôi, một vài kẻ kín đáo, im lặng. Cái ông lưu manh và khôn ngoan này sau cũng sang ở Califorina như ai! Cụ Giản Chi không có tước vị gì, không được giao trọng trách gì. Cụ im lặng như cái bóng bên cạnh Lý Chánh Trung., mặt có vẻ hơi buồn, và thái độ có vẻ " rụt rè gà phải cáo" chứ không hiên ngang, anh hùng như Lý Chánh Trung, Nguyễn Trọng Văn, Lê Tử Thành! Phải chăng cụ nhớ ông trung tá con trai cụ và những lời thống thiết của con ông trước khi ra đi và trong trại tù gửi về?

2. Thừa sử Lê Quang Tấn


Trước đây trong bài NGƯỜI CỘNG SẢN TIẾN BỘ?, tôi kể chuyện trước 1975:

Lúc bấy giờ, chúng tôi đi dạy Hòa Hảo, Cao Đài và Cần Thơ thường bằng xe Van của các Viện. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng đi Hòa Hảo, Cần Thơ bằng máy bay. Tôi còn nhớ ấn tượng một ngày trước 1975, tôi lên dạy tại Đại Học Cao Đài. Khi về, xe của Viện Đại Học đi trong buổi chiều gần hoàng hôn qua vùng hoang vắng. Tôi nói:
"Lúc này vắng vẻ quá, coi chừng cọp ra chận đường!"


Trên xe lúc bấy giờ có vài giáo sư, vài vị chức sắc, và ngài Viện Trưởng Luật sư Nguyễn Văn Lộc nguyên Thủ tướng thời Nguyễn Cao Kỳ. Ngài chức sắc trấn an tôi với giọng điệu tin tưởng: "Cụ Hồ rất trọng Ngài Hộ Pháp. Thấy cờ và xe của Đạo là họ tránh xa." (Chắc là hai bên có mật ước!)


Ngài Viện trưởng nói:" Cộng sản bây giờ tiến bộ lắm, không phải như hồi 1945!"
Nghe các Ngài nói vậy, ai cũng im lặng nghe. Và tôi cũng không dám có ý kiến tiếp nhưng lòng ngao ngán vì Ngài Viện Trưởng là một tiểu thuyết gia, một luật sư và một thủ tướng chính phủ quốc gia, và Ngài Truyền Trạng là một lãnh tụ tôn giáo mà trình độ chính trị cao như chân vịt thế kia , thật là đáng buồn, đáng chán! Lời của hai ông đều sai về phương diện lý luận và thực tế. Nếu có tiến bộ thì không phải tất cả đảng viên cộng sản, và đảng cộng sản đều tiến bộ. Nếu đọc Marx hay nghe Mao nói thì phải biết cộng sản coi khinh tôn giáo và trí thức. Dưới con mắt của Marx, Mao, Hồ, tất cả triết lý Đông Tây kim cổ đều lạc hậu, phản động, chỉ có thuyết của Marx là khoa học, tiến bộ, bênh vực hữu hiệu cho giai cấp vô sản. Và ngoài Marx, Lenin, Stalin, Mao, Hồ tất cả đều là kẻ thù của giai cấp, , đáng bỏ tù hoặc chém giết. Những ai không theo cộng sản đều là phản động, kẻ thù của nhân dân. Huỳnh giáo chủ, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm bị giết thì sao Hồ Chí Minh lại tôn trọng Hộ pháp Phạm Công Tắc?
Như chúng ta, trừ những đồng chí nằm vùng, ở Miền Nam là mang tội theo Mỹ ngụy, tổ tiên làm quan hay làm việc cho Pháp là phạm tội phong kiến, tay sai thực dân là có nợ máu với nhân dân. Nếu có học hành chút đỉnh là tội tiểu tư sản. Nếu ai có cửa hàng, có ruộng đất là thuộc giai cấp tư sản, địa chủ bóc lột. Ai theo tôn giáo là mê tín dị đoan, là phản động. Ngài Hộ Pháp có thoát được những tội trên không mà tin rằng Hồ Chí Minh kính trọng? Đó chỉ là lời phỉnh phờ, hơn nữa là kế " mượn dao giết người" của cộng sản. Kẻ trí đọc Tam Quốc Chí là hiểu mưu thâm của cộng sản. Nhất là bậc chân tu có huệ nhãn thì phải biết đâu là chân , đâu là giả chứ, và phải khiêm tốn sao lại tự hào là được ông Hồ kính trọng?

Sau 1975, mỗi người mỗi ngả, tôi không còn gặp lại hai ông, nhưng tôi biết hai ông Viện trưởng và vị chức sắc kia đều có dịp bóc lịch vài năm trong trại tù cộng sản để suy gẫm về đề tài cộng sản tiến bộ hay không và tiến bộ cỡ nào! Cộng sản có yêu tôn giáo không? Hồ Chí Minh có thực tâm kính trọng ngài Hộ Pháp không ?


Vị chức sắc ngồi cạnh tôi nếu tôi không lầm thì là Ngài Lê Quang Tấn. Tôi còn nhớ quý vị trong xe giới thiệu Ngài phẩm vị lúc đó là Truyền Trạng. (Tôi có lầm với vị nào khác chăng vì tôi chỉ gặp Ngài một lần mà thôi). Tôi cứ tưởng mấy ông này vì bị Ngô Đình Diệm kiềm chế nên sinh ra có cảm tình với cộng sản, hoặc là họ là người Miền Nam chưa nếm mùi cộng sản cho nên sung sướng khi nghe bọn Việt Cộng nịnh hót, tán dương để chúng lợi dụng. Nay đọc bài của Hồ Nam viết, mới biết rằng quý ông Cao Đài có chương trình lớn hơn tôi tưởng. Đó là chương trình Trung lập hóa Việt Nam của Ngài Phạm Công Tắc, Lê Quang Tấn được Hồ Chí Minh và Tôn Đức Thắng ca tụng!

Đọc Hồ Nam, tôi mới thấy mấy tay nhà báo ngày trước giỏi thiệt, tin gì cũng biết, việc gì cũng hay. Tuy vậy, tôi vẫn nghi ngờ không biết Hồ Nam có sai lầm không. Tôi phải lục tài liệu tìm tiểu sử của Ngài do Cao Đài viết thì thấy quả ngài chủ trương sống chung hòa bình:

Sau Hiệp Định Genève ngày 20-7-1954, nước VN bị phân chia thành hai miền Nam Bắc, lấy sông Bến Hải làm ranh giới. Miền Bắc chịu ảnh hưởng của khối thế lực Cộng sản, Miền Nam chịu ảnh hưởng của khối thế lực Tư bản.

Đức Phạm Hộ Pháp thấy rõ sẽ có cuộc nội chiến tương tàn tương sát giữa hai miền Nam Bắc, nên Đức Ngài đưa ra chánh sách Hòa bình Chung sống, hòa giải hai miền, thống nhứt với nhau bằng thương thuyết tương nhượng, nhưng không được chánh phủ hai miền ủng hộ, nhứt là Ngô Đình Diệm ở miền Nam dựa thế lực của nước Mỹ nhứt định đánh Cộng sản. Do đó, Ngô Đình Diệm tìm mọi cách khủng bố Đức Phạm Hộ Pháp và trấn áp Đạo Cao Đài.

http://caodaism.org/CaoDaiTuDien/h/h4-112b.htm#18.%20Duc%20Pham%20Ho%20Phap%20luu%20vong%20Cao%20Mien

Té ra Ngài cũng như ông đạo Dừa chủ trương "mèo chuột sống chung hòa bình" . Trong di chúc của Ngài có đoạn::


"Bần đạo qui Thiên, tạm gởi thể xác nơi đất Cao Miên một thời gian. Ngày nào nước nhà độc lập thống nhất hoặc thực hiện đúng theo đường lối Hòa bình Trung lập, sẽ di liên đài về Tòa Thánh Tây Ninh."(Wikipedia)


Nếu thích trung lập sao ngài không chạy qua một nước khác như Thụy Sĩ mới thật là một nước trung lập, Cao Miên không phải là một quốc gia trung lập.Ngài không biết và không thấy Cao Miên thực tế lúc đó và sau này là theo cộng sản sao? Trước 1975, nếu Việt Nam không nhờ Mỹ thì nhờ ai để chống Liên Xô, Trung Cộng? Lúc đó chống Mỹ nghĩa là dọn đường cho cộng sản xâm chiếm miền nam, và tiến lên xâm lược Thái Lan, Singapore. Chủ trương trung lập chống Mỹ là muốn làm tôi tớ cho chủ nghĩa cộng sản và Liên Xô, Trung Cộng, và như thế không phải là trung lập! Không có lực lượng Pháp, Mỹ và quốc gia thì Cộng sản đã nuốt chững miền Nam sau 1945. Và từ đó, Ngài Hộ pháp, chức sắc Cao Đài và các hòa thượng, linh mục và "ngụy quân nguy quyền" đã chém tre đẵn gỗ ở Thái Nguyên, Hoàng Liên Sơn, Bắc Giang, Bắc Kạn.. . chứ không phải chờ đến 1975.

Nếu theo đúng di chỉ của Ngài, nắm xương tàn của Ngài phải gửi lại Cao Miên không biết bao giờ về Việt Nam bởi vì Việt Nam nằm cạnh Trung Cộng thì phải theo Trung Cộng, làm tay sai Trung Cộng hoặc chống lại Trung Cộng. Nay Trung Cộng xâm lược , Việt Nam yếu làm sao chống Trung Cộng? Trước mắt phải liên minh với Mỹ, Ấn, Nhật và Đông Nam Á vì ngoài liên minh này không ai đủ sức chống Trung Cộng. Chúng ta là người miền Nam, bị Cộng sản gán cho tội theo Mỹ ngụy, làm CIA, làm tay sai đế quốc Mỹ, nhưng Cù Huy Hà Vũ và nhiều ông cộng sản bây giờ cũng muốn liên minh với Mỹ chống Trung Cộng! Theo Trung cộng hay theo Mỹ phải chọn một trong hai, như thế thì không thể nào Trung Lập.Cao Miên cũng là nước yếu, không thể trung lập được. Ngài Hộ Pháp muốn trung lập mà nào có được đâu! Đây là một vấn đề quốc tế to lớn, Ngài Hộ Pháp và Cao Đài giáo làm sao có thể giải quyết đuợc mâu thuẫn quốc tế gay go như vậy mà nhảy vào? Quý vị có thấy lúc đó các phái Thiên Chúa, Tin Lành, Bàhai, Ấn Độ giáo.. im lặng chứ có tuyên bố gì đâu! Bởi vì họ mặc cho bên chính trị quân sự muốn làm sao thì làm, họ chỉ thủ phận tôn giáo.Còn Hồi giáo xưa nay vẫn chống Âu Mỹ và thân Liên Xô, Trung Cộng, như vậy là họ thân Cộng sản, chống Âu Mỹ, không phải là trung lập.

Cộng sản muốn giải phóng thế giới, Tư bản Mỹ muốn đổ quân vào Triều Tiên, Việt Nam, Cao Đài giáo có sức ngăn chận máy bay và xe tăng của tư bản và công sản. không ? Nếu mình chỉ nói suông, tuyên bố văn hoa thì có ích gì, chỉ hại bản thân quý vị lãnh đạo và gây khó khăn cho giáo chúng mà thôi! Mình yếu mà chạy theo Trung Lập thì cũng như Nerhu, Sihanouk một là bị đánh hai là bị lợi dụng ! Ôi, chiến tranh nồi da xáo thịt đã xảy ra từ 1945 chứ nào phải mới xảy ra sau 1954. Cao Đài giáo trong thời Pháp thuộc đã khôn khéo mà lập đạo, tại sao sau 1954 lại không khôn ngoan để giữ đạo? Thiên cơ dạy thế hay ai xui khiến thế? Dẫu sao, đứng về phương diện quốc gia và Đạo, lập trường của ngài Hộ Pháp chỉ có lợi cho cộng sản và gây trở ngại cho việc phát triển Đạo, giúp kẻ ác thực hiện cảnh tương tàn!.Kể ra ông Ngô Đình Diệm đối với Cao Đài cũng đã nương tay, nếu ông bỏ tù, giết hại hàng giáo phẩm, cấm tín đồ thờ phương, lấy các thành thất làm trụ sở ủy ban hay nơi nuôi trâu bò, heo gà thì tình hình sẽ ra sao?


Trước đây trên Bên Kia Bờ Đại Dương số 192 trong bài TRUNG LẬP VIỆT NAM , tôi có nói rằng Trung Lập là một thuyết rất hay. Mặc kệ thiên hạ đánh nhau, mình không theo ai cả. Nhưng thực tế nước ta yếu, nhỏ, bên cạnh anh khổng lồ Trung Quốc, và bị các cường quốc khác xâm lược, khó mà trung lập. Ta muốn trung lập, nhưng người nước ta có kẻ theo Trung Quốc, theo Nga, theo Nhật, theo Pháp, theo Mỹ thì làm sao Trung lập? Nếu có một chinh phủ trung lập thì sớm muộn cũng bị một trong hai phe hoặc cả hai phe thanh toán, và như vậy mình ở vào thế " lưỡng đầu thọ địch" như Sihanouk và Cao Miên! Ngài Hộ Pháp, ông Hồ Hữu Tường, và nay ông Vũ Quốc Thúc muốn trung lập hóa nhưng Việt Nam có quyền gì mà đòi như thế?Trung Cộng tất không chịu. Việt Cộng phe thân Trung Cộng tất không chịu. Trung lập chống Mỹ , sống chung hòa bình với 16 chữ vàng tức là làm nô lệ Trung Cộng., điều này tất nhân dân ta không đồng ý.

Trước 1975, cộng sản giương hai khẩu hiệu: giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc, nhưng nay thì rõ là cộng sản làm nô lệ Nga Tàu, nay là bán nước cho Trung cộng, không phải là đảng yêu nước mà là đảng phản quốc. Công sản hô hào bênh vực vô sản thì nay toàn dân bi bóc lột, bị cướp dất, bọn tư sản đỏ sống trong huy hoắc, giàu sang trong khi nhân dân, nhất là dân lao động phải đói khổ. Trong khi cộng sản theo Nga Tàu, người quốc gia phải dựa vào Pháp Mỹ để chiến đấu. Bên theo Nga Tàu, bên theo Pháp Mỹ thì bên cộng sản có gì mà tự hào là yêu nước, và các vị lãnh đạo tôn giáo tại sao lại chạy theo cộng sản? Cộng sản hô hào dân chủ, xóa tan bất công xã hội thì bên Nga, Tàu dân bị đày ải, bị giết chết hàng triệu, và tư sản đỏ trở thành "giai cấp mới", tại sao các bậc tu hành lại không giác ngộ mà lại hùa theo cộng sản? Tu hành thì phải chân thật, trung lập là cái lốt thân cộng gian trá, tại sao các vị lãnh đạo tôn giáo lại theo bã "trung lập", lại che mặt bằng mạt nạ gian trá như vậy?

Vã lại chủ trương trung lập, mèo chuột sống chung thì chỉ có mèo là có quyền tuyên bố như thế dù đó chỉ là giả dối. Sống chung hay ăn thịt là quyền của mèo . Còn chuột làm sao mở miệng chuột mèo sống chung, trừ những con chuột ăn tiền của mèo. Dù hoàn cảnh nào đi nữa, chủ trương chuột mèo sống chung làm cho chuột lo lắng còn mèo thì sung sướng! Ngài Hộ Pháp, ông Hồ Hữu Tường và Vũ Quốc Thúc không biết mang lông mèo hay lông chuột mà nói trung lập? Ông đạo Dừa chủ trương Mèo chuột sống chung thì sau 1975 mất tích, không còn ngồi ở tịnh xá để rao giảng Mèo chuột sống chung! Người thì bảo ông đi học đại học cao cấp, hoặc được đảng cho đi mò tôm ở cù lao Rồng rồi! Người thì bảo ông truớc 1975 ra Hà Nội thường xuyên, và nay công tác hoàn tất, có lẽ ngài đang được bồi dưỡng tại một biệt thự ở Champa hay Đà Lạt, tha hồ ăn mặn và giải trí với các em chân dài cho bõ những ngày uống nước dừa và ngồi giữa nắng Sàigon như lửa cháy!

Báo chí Cộng sản Bến Tre viết như sau về ông Đạo Dừa:

Đạo Dừa thực chất là một thứ "cây kiểng dân chủ" của chủ nghĩa thực dân mới, nhằm mục đích lừa bịp về mặt chính trị hơn là hoạt động tôn giáo. Bởi vì, giáo lý của đạo này rất nghèo nàn chỉ gồm vài lý thuyết chắp vá rút từ Thiên Chúa giáo, Phật giáo và vài tôn giáo khác, chắp vá, không đầu, không đũa và cũng không ai rõ hệ thống tổ chức của nó ra sao, số tín đồ là bao nhiêu. Thế nhưng, đã có thời kỳ Nguyễn Thành Nam ra "tranh cử tổng thống", với tư cách là một "giáo chủ". Báo chí Sài Gòn từng quảng cáo rùm beng về việc này, đặc biệt là những hoạt động chính trị ráo riết của ông ta trong những thời kỳ diễn ra cuộc”Hội đàm bốn bên" tại Paris, để giải quyết cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Đã có hàng trăm thanh niên nhẹ dạ, cả tin chạy về đây ẩn trú, sống dưới sự che trở của ông ta trong chiếc xà lan đậu cố định ở cù lao Phụng để trốn “quân địch” của Nguyễn Văn Thiệu.

Và cũng tại nơi đây, lính của Thiệu đã từng ập xuống vây bắt một lúc hàng trăm thanh niên, đưa về quân trường. Ngay cái tên "Đạo Dừa" cũng mang tính chất huyền bí, lừa bịp rằng: "Giáo chủ vốn là bậc tiên thánh, chỉ uống nước dừa mà sống, chứ không ăn những thực phẩm khác của trần gian”. Như vậy, đạo này đặt tại trụ sở của nó tại đất Bến Tre - quê dừa - quả là hợp lý nhất (!).

Sau ngày giải phóng, vì những hoạt động chính trị lừa bịp, đạo dừa bị cấm, Nguyễn Thành Nam tìm đường vượt biên nhưng không thoát được, bị bắt đưa đi học tập. Vì tuổi cao, sức yếu nên ông được chính quyền cách mạng cho người thân trong gia đình lãnh về sống tại Phú An Hòa. Những tín đồ của đạo Dừa về sau nhận ra thực chất của những trò lừa dối của người chủ xướng, đã tự nguyện bỏ đạo.

http://www.bentre.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=684&Itemid=77.

Một thí dụ nữa là ông Võ Thành Minh, người đã thổi sáo tại hồ Genève năm 1954, trong tết Mậu thân 1968 tại Huế đã bị cộng sản giết vì thành tích hô hào "trung lập" của ông! Ôi tội nghiệp ông già này bị cộng sản tóm mà vẫn hiên ngang khoe trung lập, quen thân Hồ Chí Minh. Ôi ông cũng trí thức và đi ngoại quốc thế mà không biết với cộng sản trung lập là đối lập với cộng sản ,chỉ có theo cộng sản thì được, không theo cộng sản, chủ trương trung lập là phản động, là phải chết! Vấn đề đơn giản là vậy mà quý Ngài không hiểu! Ai yêu nước, chống thực dân bằng Trần Trọng Kim, Nhất Linh, Vũ Hồng Khanh cuối cùng phải về Sài gon, về Nam Kỳ sanh sống, làm sao mà tồn tại trong chế độ cộng sản?

Có nhiều kẻ có bằng cấp, lên giọng độc lập tự do về chính trị, bảo rằng ta phải tự quyết, tự tìm lối thoát cho mình. Mình nước nhỏ, không bị nước này thì cũng bị nước khác chi phối thì làm sao có quyền tự chủ. Từ khi Pháp thuộc đến nay, nước ta đều bị ngoại bang thống trị cho nên người Việt bên kia theo lệnh Nga, Tàu, bên này phải theo Pháp Mỹ, không còn đường nào khác. Ai nói độc lập, tự do trong thời kỳ này là nói láo! Chúng ta có quyền mơ ước độc lập tự do chứ chưa thực sự độc lập tự do. Dẫu sao, với Pháp, Mỹ dân ta còn có một số độc lập, tự do tương đối hơn là sống với cộng sản. Khoảng thập niên 60, một số nước không cộng sản như Ấn Độ, Ai Cập, Cao Miên, gần 100 nước chủ trương trung lập, nhưng sự thực họ thân Liên Xô, Trung Cộng mà chống Mỹ. Ấn Độ thân Liên Xô, Sihanouk ăn nằm bên Trung Quốc thế mà xưng là trung lập! Đó là một tổ chức thiên cộng chứ không phải Trung lập thật sự. Pháp sau 1954 quay ra chống Mỹ và đi theo đám trung lập này. Đức Hộ Pháp cùng một số chức sắc Cao Đài cũng theo chủ trương này và được cộng sản hoan hô!


Sau đệ nhị thế chiến, Pháp yếu phải từ bỏ các thuộc địa nhưng vẫn muốn trở lại với chính sách thực dân mới. Khoảng 1960, Hoa Kỳ bất mãn với chính phủ Ngô Đình Diệm nên hai ông Diệm Nhu đã muốn bỏ Mỹ theo Pháp và Pháp hứa viện trợ Việt Nam. Nhiều tài liệu cho biết ông Nhu đã mật đàm với Cộng sản. Phải chăng ông Diệm muốn trung lập theo Pháp hay chung sống hòa bình với cộng sản? Nếu chủ trương này thành công thì Việt Nam đã thống nhất mười năm trước 1975 và ông Diệm, Nhu, bà Trần Lệ Xuân đã được Hồ Chí Minh, Lê Duẩn bắt tay chào đồng chí và ôm hôn thắm thiết. Kết quả , hai ông Diệm Nhu đã chết
thảm thương khiến cho nhiều người trong đó có trung tá kiêm lãnh tụ Cần Lao Nguyễn Văn Châu thương tiếc một nền hòa bình dang dở! Sau 1963, những người từ Pháp về Việt Nam vận động trung lập, và Dương Văn Minh bị Nguyễn Khánh tố cáo là theo trung lập! . Ngày 30-4-1975, người Pháp cũng muốn gỡ gạc với chính sách Trung lập nên đã đặc phái đại tướng Vanuxem sang thực hiện sự vụ này nhưng thất bại. Nhưng Pháp yếu nên bắt tay với Trung Cộng để trung lập Đông Dương. Năm 1985, ngài Hồ Tấn Khoa, Hồ Văn Bạch các đạo hữu Cao Đài không được thiên cơ báo trước hay sao mà phải bị thất bại ? Và thiên cơ không báo trước cuộc nổidậy này là do Pháp và Trung Cộng lãnh đạo ở đàng sau? Nếu cuộc nổi dậy này thành công thì Việt nam lại rơi vào tay Pháp và Trung Cộng, có lợi gì đâu!


Nhưng trung lập hay không thì nay đã rõ. Ấn Độ. Miên, Việt phải đối diện với Trung Quốc xâm lược. Trong hoàn cảnh này, chúng ta có thể hô hào Trung Lập không?


Cao Đài chủ trương cơ bút. Tôi tin có thần thánh, có phép màu, có tiên tri. Tôn giáo nào khởi đầu cũng có việc tiên tri. Nhưng biết ai là bậc tiên tri? Ai là kẻ điên khùng hoặc giả mạo? Cơ bút có thật sự linh ứng không? Nếu cơ bút linh ứng thì tại sao cơ bút không báo trước sự phản bội của Nguyễn Thành Phương và đức Hộ Pháp phải liều thân chạy qua Cao Miên? Tôi thắc mắc là Ngài Thượng tọa Thiện Minh có nói đến bài sấm truyền của Phạm Công Tắc có đoạn

Khi Cộng sản đúng thời đúng buổi

Chiếm Nam Quan cho đến mũi Cà Mau

Lúc bấy giờ Hội Thánh phải nói sao?

Khi đã lở lâm vào trong thế khó

Khi Cộng Sản chiếm quyền hành trong lúc đó

Biết bao nhà tôn giáo phải suy vi

Cấp lãnh đạo và các phẩm chỉ huy

Đứng không vững cho nên vấp ngã

Làm tên tuổi lợi danh tiêu mất cả

Cộng ngày sau sẽ tan rã không còn

Nếu cơ bút cho biết Cộng sản tàn ác thì sao Ngài còn chủ trương trung lập? và các chức sắc Cao Đài một số tin tưởng Cộng sản? Di chúc Ngài Hộ Pháp dặn khi nào Việt Nam trung lập hòa bình mới đưa Ngài về Việt Nam nhưng năm 2006, Việt Cộng đã đưa di hài Ngài về Việt Nam, một Việt Nam làm tay sai Trung Cộng, và đang ở trên bờ vực chiến tranh, nghĩa là không phải một Việt Nam hòa bình, trung lập như Ngài mong muốn.. Thiên cơ không cho Ngài biết điều này hay sao? Ngài có biết là di chúc Hồ Chí Minh còn bị đàn em quăng vào sọt rác thì di chúc Ngài đâu có được Việt Cộng tôn trọng. Ngài có "tiên tri" điều này không? Thượng Tọa Thiện Minh hay Ngài Hộ Pháp có lầm lẫn gì chăng?