Hiển thị các bài đăng có nhãn BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 207. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 207. Hiển thị tất cả bài đăng

10 LOÀI CÁ TỪ THỜI TIỀN SỬ

Chúng xuất hiện cách đây hàng trăm triệu năm nhưng vẫn còn sống đến ngày nay.

1. Cá mút đá Myxini



Theo các ghi chép hóa thạch, cá mút đá Myxini đã tồn tại hơn 300 triệu năm, có nghĩa là chúng đã già khi loài khủng long biến mất trên thế giới. Một số nhà khoa học cho biết chúng được tìm thấy ở vùng biển tương đối sâu. Theo họ, chúng không phải là cá nhưng cũng không thực sự là lươn, đôi khi còn được gọi là lươn chất nhờn. Chúng là loài động vật rất kỳ lạ, có một hộp sọ, hai não và có nhiều hơn một cái cột sống. Chúng bị mù và thường ăn vào ban đêm; thức ăn chủ yếu của chúng là xác các loài động vật lớn (cá, loài thú biển). Chúng sở hữu biệt danh “lươn chất nhờn” là bởi chúng sản xuất chất nhầy để phá hủy mang của các loài cá săn mồi khác. Kết quả là chúng hầu như không có kẻ thù tự nhiên.

2. Cá buồm


Cá buồm mang diện mạo “thời tiền sử” với bộ dạng dữ tợn, hàm răng sắc nhọn và một chiếc vây lưng hình “cánh buồm” gợi nhớ đến hình dáng của một số loài khủng long. Ngay cả tên khoa học của nó cũng mang dấu ấn khủng long (Alepisaurus ferox). Với chiều dài 2 mét, động vật ăn thịt này xuất hiện trong tất cả các đại dương. Chúng rất phàm ăn, thức ăn chủ yếu là những loài cá và mực ống nhỏ, đôi khi chúng ăn cả đồng loại của mình.

3. Cá rồng


Thuộc nhóm cá cổ xưa Osteoglossids, loài cá này đã tồn tại từ kỷ Jura. Ngày nay, chúng được tìm thấy ở Amazon, một vài nơi ở châu Phi, châu Á và Úc. Đôi khi chúng được nuôi như là vật nuôi kỳ lạ. Cá rồng là loài săn mồi phàm ăn, có thể ăn bất kỳ động vật nhỏ nào mà chúng bắt được bao gồm cả chim và dơi trong những lần nhảy lên khỏi mặt nước (chúng có thể nhảy lên đến 2 mét trong không khí) . Ở Trung Quốc, loài cá này được biết đến với tên gọi "cá rồng" và được cho là tín hiệu của sự may mắn.

4. Cá mập nhăn


Đây thực sự là một con quái vật của biển cả, một trong những loài cá mập nguyên thủy nhất còn sống tới tận ngày nay. Cá mập nhăn là một “di tích” có từ kỷ Phấn Trắng, khi khủng long thống trị hành tinh xanh.

Một con cá mập nhăn cái có thể phát triển tới 2 mét, con đực có thể lớn hơn. Chúng sống ở vùng nước rất sâu và thức ăn chủ yếu là loài mực. Loài cá mập nhăn hầu như không tấn công người (có thể là chúng “chẳng thèm” để ý đến những động vật trên cạn). Nó đã từng được phát hiện tại bờ biển của nước Nhật vào năm 2007 và được xem là một trong những khám phá sinh học quan trọng.

5. Cá tầm


Một đại diện còn sống sót từ thời đại khủng long cho đến ngày nay, đó là cá tầm, loài cá sống ở khoảng đầu kỷ Jura. Loài cá này bị đánh bắt quá mức khiến chúng rơi vào nguy cơ tuyệt chủng lớn. Con cá tầm lớn nhất có thể dài tới 6 mét, to lớn như cá mập trắng lớn. Cá tầm ăn các loại động vật nhỏ dưới đáy biển, đặc biệt chúng lại không gây nguy hiểm (trừ khi bị khiêu khích thì chúng cũng rất đáng sợ).

6. Cá hải tượng


Một loài cá họ hàng gần với cá rồng là cá hải tượng Amazon, đôi khi được coi là loài cá nước ngọt lớn nhất trên thế giới. Theo mô tả ban đầu, nó có thể phát triển lên đến 4,5 mét, nhưng hầu hết chiều dài trung bình là 2 mét. Loài động vật ăn thịt di chuyển chậm này thường ăn các loại cá nhỏ, động vật giáp xác hay bất kỳ loài động vật nhỏ nào có thể vừa với miệng nó. Một đặc điểm thú vị của loài cá này là nó cần phải thở oxy từ không khí, giống như cá voi để tồn tại. Cá hải tượng không gây nguy hiểm cho con người và thường bị săn bắt để lấy thịt. Thật không may, hiện nay loài cá này rất khan hiếm.

7. Cá đao


Động vật đang ở trong tình trạng nguy cấp này là loài cá sống sót từ kỷ Phấn trắng và chúng có thể được tìm thấy trong các vùng nước mặn hay ở các con sông, kênh, rạch. Với chiều dài 7 mét, cá đao trông giống như cá mập nhưng thực sự lại có liên quan chặt chẽ đến loài cá đuối. Những chiếc “cưa” của chúng chính là vũ khí và là cơ quan cảm giác, bao phủ lên trên những lỗ chân lông nhạy cảm giúp chúng cảm nhận được con mồi. Mặc dù chúng ôn hòa nhưng cá đao có thể trở nên cực kỳ nguy hiểm nếu bị khiêu khích. Dựa vào một hóa thạch khác thường, chúng ta biết rằng cá đao khổng lồ tiền sử có thể là một thực phẩm chủ yếu cho loài khủng long ăn thịt lớn nhất - Spinosaurus, bởi một đốt xương sống của loài cá này được tìm thấy bị mắc kẹt giữa các răng của khủng long.

8. Cá sấu mõm dài


Con vật ghê gớm này được tìm thấy ở vùng Nam nước Mỹ, phía Bắc và Đông Mexico và được mệnh danh là loài cá nước ngọt lớn nhất Bắc Mỹ (cho dù cũng có lúc chúng “lang thang” ra biển). Cá sấu mõm dài có thể phát triển dài 4 mét và nặng 200kg. Như đúng tên gọi, cá sấu có cái mõm rất dài với hàm răng cực kì sắc nhọn này rất giỏi phục kích con mồi và đã từng cắn người. Đây là loài cá cổ nhất còn sống tới ngày nay và được cho rằng tồn tại từ kỷ Phấn trắng.

9. Polypterus Senegalus

Loài cá Châu Phi còn được gọi là “Cá chình khủng long” bởi vây lưng có răng cưa và ngoại hình giống loài bò sát. Nó gợi nhớ đến một số loài khủng long.


Chúng không thực sự là cá chình nhưng là thành viên của gia đình cá khủng long vàng. Nếu bạn định nuôi Polypterus Senegalus thì hãy canh chừng cẩn thận bởi chúng rất dễ nhảy ra khỏi bể. Một điểm thú vị là Polypterus Senegalus có khả năng sống không cần nước trong một thời gian cho đến khi vảy của chúng không còn ẩm nữa, điều này giúp chúng sau khi thoát ra khỏi bể có cơ hội tìm tới vùng nước tự do.

10. Cá vây tay

Đây là "ngôi sao" nổi tiếng nhất trong số các hóa thạch sống. Cá vây tay được cho là tuyệt chủng từ rất lâu rồi và giới khoa học hoàn toàn bất ngờ khi tìm thấy con cá vây tay bằng da bằng thịt và… có thể thở. Người ta nói rằng, cá vây tay tuyệt chủng trong kỷ Phấn trắng cùng với khủng long, nhưng năm 1938, một mẫu vật tìm thấy tại Nam Phi đã chứng minh điều đó là hoàn toàn sai lầm. Kể từ sau đó, người ta cũng tìm thấy cá vây tay tại Indonexia vào năm 1999.


Loài này là động vật ăn thịt lớn, có thể dài tới 2 mét, ăn các loài nhỏ hơn như cá mập nhỏ. Chúng thường sinh sống ở những vùng nước sâu và tối. Mặc dù chúng hiếm khi bị săn bắt do có mùi khủng khiếp nhưng cá vây tay vẫn được liệt trong danh sách cần bảo tồn.

BÙI TÍN BLOG

Thứ Ba, 07 tháng 2 2012
Thời điểm của tụ nghĩa

Bùi Tín viết riêng cho VOA



Những ngày đầu năm, thủ đô Hà Nội lạnh, nhưng có một cuộc họp ấm cúng ở trụ sở tạp chí Tia Sáng trên đường Điện Biên Phủ. Đây là một tin vui, rất vui. Vì trong khi các gia đình họ hàng bạn bè đi thăm nhau, các quan chức thi nhau lo quà cáp biếu xén chúc tụng các quan trên, một số trí thức - kẻ sỹ thủ đô - chừng 20 vị, đều từng có chức vụ nổi bật trong xã hội, hẹn nhau tụ họp mừng đón Xuân Nhâm Thìn.

Cuộc họp này - một cuộc mini-tụ nghĩa giữa thủ đô - sẽ có thể được ghi vào lịch sử đất nước vì những người tham dự đều là kẻ sỹ có tâm và có tầm, đau đáu một khắc khoải lớn, đưa đất nước vượt qua khó khăn chồng chất, khắc phục khủng hoảng lạc hậu, để Việt Nam mở mặt mở mày với thế giới, xã hội phát triển bình đẳng văn minh, toàn dân chung hưởng thành quả của phát triển.

Những người dự họp đã trao đổi ý kiến gọn gàng, bộc trực, tâm huyết về hiện tình đất nước, qua những phát biểu đều cô đọng, cân nhắc, nghiêm trang, biểu lộ một ý thức trách nhiệm chung khi Tổ quốc thực sự lâm nguy, khi lãnh đạo đảng tỏ ra không ngang tầm, còn cao ngạo cấm trí thức phản biện công khai đường lối chính sách của đảng.

Các trí thức có mặt trong cuộc họp mặt đầu Xuân này hẵn đã không quên rằng trong tháng 10-2010, theo yêu cầu của đảng, hơn 20 anh chị em trí thức tiêu biểu đã góp ý tận tình và sâu sắc vào các văn kiện dự thảo cho Đại hội XI, bác bỏ với lập luận chặt chẽ hầu hết các luận điểm đã được Bộ Chính trị thông qua. Nhưng tất cả phản biện rất có giá trị ấy đều bị những người cầm quyền gác bỏ ngoài tai vì cho là lẩm cẩm.

Cuộc họp đầu xuân này có thể coi là một cuộc phản biện nối tiếp. Vì Vì trí thức chân chính là thế. Quyền uy không khuất phục được. Danh lợi không mua chuộc được. Họ chỉ bị thuyết phục bởi lẽ phải. Họ chỉ sợ lương tâm của chính họ. Với họ, nhân dân là cao nhất. Những sỹ phu như Chu Văn An, Nguyễn Trường Tộ…đáng ngưỡng mộ là vì cốt cách ấy.

Do đó việc Bộ Chính trị đầy quyền uy cưỡng ép Đại hội XI thông qua một nghị quyết đã được xem xét kỹ bởi các chuyên gia và kết luận là “sai từ đầu đến cuối”, “cần viết hẳn lại, không thể sửa được”, là một sự chà đạp chân lý, một sự khiêu khích đối với lương tri, một hành động có tính cách miệt thị đối với trí thức, là một sự phản bội dân tộc và nhân dân.

Chính vì lẽ đó mà tại cuộc họp đầu năm Nhâm thìn này, nhà sử học Dương Trung Quốc đã báo động: cỗ xe đất nước đang chạy không có định hướng, nó chạy theo quán tính, nó không phanh hãm, nó không có số lùi. Lẽ ra nó đã phải quay chữ U - U turn -, để lùi về phía sau rồi quả đoán rẽ vào đại lộ Văn minh, như nhà trí thức phản biện - dấn thân Hà Sỹ Phu từng nêu lên 20 năm có lẻ rồi. Lãnh đạo là bẻ lái, là biết tiến, biết lùi, biết ngoặt trái, ngoặt phải khi đến ngã ba, ngã tư… Đi hàng trăm cây số rồi mới biết là lạc đường, nhưng ngoan cố nhất định không quay lại, vì mù quáng, sỹ diện, cứ rúc sâu vào rừng rậm, ngày càng xa đại lộ văn minh.

Các nhà lãnh đạo VN định đưa dân này, nước này phiêu lưu đến chỗ tận cùng bi đát nào nữa?

Dù sao anh Dương Trung Quốc cùng thân hữu họp mặt đầu xuân Nhâm thìn vẩn còn niềm tin và vẫn còn ít nhiều lạc quan về con đường xa lộ lớn của dân chủ và văn minh. Do đó số người họp tuy nhỏ nhưng là của quý của đất nước và nhân dân. Họ không chịu xuôi tay, Họ rất hiểu thời cơ lớn đã và đang đến dồn dập. Không thể để nhân dân ta lỡ tàu một lần nữa.

Họ đang tụ nghĩa đấy. Một vài mini Diên Hồng để dẫn đến một Diên Hồng 2012.

* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.


Bùi Tín blog

http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/tin/thoi-diem-tu-nghia-02-07-2012-138867254.html

KHƯƠNG TỬ DÂN * MỸ & TRUNG CỘNG

Chung quanh bài viết của Đào văn Bình
Mỹ Trở Lại Á Châu Như Thế Nào?

Khương Tử Dân

Trong bài viết của tác giả Đào Văn Bình đăng trên báo Calitoday, ngày 26/01/2012 với tựa đề “Mỹ Trở Lại Á Châu Như Thế Nào?”, có vẻ đề cao chính sách của CSVN, và CS Tầu một cách hơi quá đáng, quá chủ quan, quá thiển cận. Ông Đào Văn Bình đưa ra một số vũ khí của Tầu cộng, như có vẻ trên trội hải quân của Mỹ. Điều này có thể là vì tính cách tuyên truyền cho chế độ CSVN và CS Tầu hơn là thực tế.

Đào Văn Bình cho rằng hỏa tiển đạn đạo Đông Phong DF-21D tầm xa có khả năng tiêu diệt hàng không mẫu hạm của Mỹ dễ dàng là quá chủ quan, thiếu xác tín, thiếu thông tin. Hạm trưởng hàng không mẫu hạm của đệ thất hạm đội thứ VII Thái Bình Dương đã có lần phát biểu là các đạn đạo Đông phong DF-21D của Tầu cộng, chưa đến “boong tầu” của ông có thể đã thành những mãnh vụn của đóa pháo bông. Mỹ đã có vũ khí Laser để đối phó với đạn đạo Đông phong DF-21D.

Đào Văn Bình còn có ý nghĩ là Mỹ phải xây dựng nhiều căn cứ quân sự của Mỹ tại các nước ASEAN thì mới có khả năng tấn công Tầu cộng. Ông Đào văn Bình khẳng định là căn cứ Darvin ở Úc là quá xa với Tầu cộng, chỉ làm trò cười cho chủ tịch Hồ Cẩm Đào. Trên thực tế, Hồ Cẩm Đào đã tức đến học xì dầu- không chết như Chu Du đã là may lắm rồi-, vì bị TT. Obama và ngọai trưởng H. Clinton phong tỏa bao vây qua chiến lược của Mỹ ở châu Á Thái Bình Dương trong thế kỹ XXI, làm mất cả thể diện với đảng trong năm sau cùng cầm quyền. Những nhận định về chiến lược, chiến thuật quân sự, kinh tế của Đào Văn Bình thật sự hoàn toàn ảo tưởng, khác biệt xa vời với chính sách chính trị, quân sự của Mỹ do chính TT.Obama và ngoại trưởng H. Clinton đã vạch ra cuối năm 2011 vừa qua và gần đây nhất.

Chính tổng trưởng quốc phòng Mỹ, ông Leon Panetta đã công bố về chiến lược của Mỹ trong những năm tới ở Châu Á Thái Bình Dương. Chiến lược này hoàn toàn khác biệt và xa vời với những gì ông Đào văn Bình đã ảo tưởng. Mỹ đã khẳng định là không có ý định lập thêm căn cứ quân sự tại các nước ASEAN trên Thái Bình Dương vì quá tốn kém rất dễ bị đối phương phản kích. Chính ngoại trưởng Philippines đã tha thiết yêu cầu Mỹ tái lập các căn cứ quân sự Mỹ tại Philippines trước đây hai thập niên, nhưng Mỹ đã từ chối.

Chính CSVN Hà nội cũng đã có yêu cầu Mỹ thuê căn cứ Cam Ranh, nhưng Mỹ đâu điên khùng gì làm chuyện đó, vừa mất tiền tái thiết cảng vịnh Cam Ranh và chi tiền cho bọn CSVN chỉ biết đánh cướp, đàn áp, gông cùm. Mỹ cũng đã lập lại nhiều lần là nếu CSVN Hà nội muốn liên minh với Mỹ, hay mua vũ khí của Mỹ điều kiện tiên quyết là phải cởi mở chính trị, mở rộng tự do, dân chủ, nhân quyền cho dân, và các tôn giáo phải có tự do, các đảng đối lập phải được mọi quyền tranh cử, tự do báo chí. Nhưng đảng mafia Hà nội vì sợ mất đảng, nên không làm thỏa đáng những yêu sách của Mỹ đưa ra. Tất cả những sự kiện này đã được truyền thông tự do trên thế giới đã công bố.

Trong chính sách liên Minh của Mỹ ở châu Á Thái Bình Dương trong thế kỹ XXI nhằm mục đích ổn định toàn vùng với sự tham gia, nỗ lực của hai bên đồng minh. Do đó Nhật và Nam Hàn cũng đã phải bỏ ra ngân sách riêng để tự mua vũ khí, hay tự sản xuất vũ khí để bảo vệ đất nước Nhật hay Nam Hàn. Trong hiệp ước liên minh đó mang ý nghĩa là bất cứ nước nào xâm nhập chủ quyền của Nhật hay Nam Hàn được coi như xâm nhập, gây hấn với Mỹ. Mỹ không những chỉ có hiệp ước Liên Minh với Nhật bản và Nam Hàn, Mỹ còn có hiệp ước Liên Minh với Thái Lan, Philippines và nhiều cam kết liên quan đến quân sự với Taiwan.

Qua hiệp ước Liên minh đó, chắc chắn Mỹ sẽ tái lập căn cứ Utapao ở Thái Lan dễ dàng khi cần thiết. Nhưng trên thực tế qua sự công bố của tổng trưởng quốc phòng Mỹ, ông Leon Panetta đã nhấn mạnh là Mỹ đã có chiến lược quân sự mới là chỉ lập các căn cứ di động trên biển qua chiến thuật nhanh nhẹ, nhưng có hỏa lực mạnh, vũ khí tối tân của không quân, hải quân và tình báo.

Mỹ đã có có căn cứ quân sự ở cả hai nước Nam Hàn và Nhật, nhưng Nam Hàn và Nhật vẫn phải bỏ tiền ra mua vũ khí của Mỹ nếu muốn tân trang hiện đại hóa quân đội, Mỹ không cho không biếu không như tác giả bài viết đã gợi ý.

Ngoài ra Mỹ cũng đã có căn cứ quân sự ở Hawaii, Guam đã được hiện đại hóa. Mỹ có một số tàu chiến phế thải, có thể bán cho Philippines với giá thật rẻ, nhưng Philippines vẫn phải bỏ tiền ra mua. CSVN Hà nội cũng đã muốn Mỹ viện trợ, và bán vũ khí cho CSVN Hà nội, nhưng đã bị từ chối, vì vấn đề nhân quyền quá tệ của đảng mafia Hà nội. Điều này đã được hai nghị sĩ Mỹ McCain và Lieberman đã thẳng thừng công bố trong đầu tháng giêng vừa qua nhân chuyến viếng thăm các nước ASEAN..

Chính sách “đu dây” theo kiểu “khỉ Ba đình” từ xưa đến nay Mỹ đã quá rõ, họ chỉ nhằm mục đích kiếm lợi riêng bỏ túi chung quanh vụ bồi thường chiến tranh, và đền bù về hậu quả của thuốc diệt cỏ có màu da cam. Thật tế thì CSVN Hà nội đã thất bại nhiều lần khi kiện Mỹ về hậu quả của thuốc diệt cỏ, nhưng không có bằng chứng cụ thể nào cho rằng các căn bịnh cancer, các trẻ em sơ sinh dị dạng, khuyết tật là do hoá chất dioxin hiện diện trong thuốc diệt cỏ.

Hàm lượng dioxin không tách ra được này, thật sự quá nhỏ, không đáng kể, và qua thời gian đã gần bốn chục năm, với nạn mưa lũ ở Việtnam, tất cả vết tích của dioxin đã bị thoái hóa, biến mất chỉ sau 5-7 năm sử dụng. CSVN đã áp lực bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, đứng tên trong danh sách thưa kiện, nhưng chính bà bác sĩ Dương Quỳnh Hoa đã xác nhận. CS Hà nội đã tự động ghi tên của bà bác sĩ Dương Quỳnh Hoa vào danh sách trong thời gian bà bị quản thúc mười năm tại Saigon sau khi trả thẻ đảng, và từ chức tổng trưởng. Bà Dương Quỳnh Hoa bị ung thư nhũ hoa, và con của bà chết không phải vì chất doxin chỉ hiện diện trong thuốc diệt cỏ.

Việt cộng chỉ làm bung xung vụ hóa chất dioxin trong thuốc diệt cỏ để kiếm mối lợi riêng bỏ túi tham, chứ thật ra CSVN Hà nội, chẳng có lo gì cho dân. Cứ nhìn tất cả chính sách đánh cướp đất của nông dân, đánh cướp đất đại của dân thành phố từ mấy chục năm nay thì đã rõ. Đảng viên và nhà nước từ trên xuống dưới chỉ là một bọn cướp Việt khấu Ba Đình, có lòng lang dạ thú, đúng như báo chí của đảng CS Tầu cộng công kích. Nói tóm lại chính sách “khỉ đu dây” của đảng cướp mafia Hà nội đã vô nghiệm, vô dụng, và đã bị lật tẩy. Chính sách ngoại giao về cả hai chiến lược quân sự và kinh tế của Mỹ ở châu Á Thái Bình Dương đã quá rõ ràng. Mỹ sẽ không đứng về phía nào trong vấn đề tranh chấp chủ quyền đảo, lãnh hải ở Biển đông, nhưng mọi sự tranh chấp phải tuân thủ theo luật biển và công ước Liên Hiệp ước.

Điều chắc chắn là Mỹ sẽ không bao giờ tham dự vào cuộc chiến với Tầu cộng để giành lại chủ quyền hai quần đảo Hoàng Trường Sa cho đảng cướp mafia Hà nội. Nhưng đối với Philippines thì vấn đề lại khác qua hiệp ước quân sự giữa Mỹ Philippines mở rộng. Tác giả Đào Văn Bình đã nhập nhằng về Liên quân sự giữa Mỹ với Philippines để đưa CSVN vào bàn luận là chuyện xa vời, ảo tưởng, vì giữa Mỹ và CSVN chưa có một hiệp ước liên minh nào cả như Mỹ đã cảnh báo trong bài tham luận của ngoại trưởng H. Clinton. Tác giả Đào Văn Bình đã thẩm định hàng không mẫu hạm Thi Lang của Tầu cộng hoàn toàn sai lầm. Đấy chỉ là một khối sắt rĩ, di chuyển trên biển, chỉ để hù dọa Philippines và VGCS Hà nội cho vui thôi. Cho đến bây giờ, hàng không mẫu hạm Thi Lang của Tàu cộng vẫn chưa có khả năng cho phi cơ đáp xuống, ngoại trừ trực thăng.

Chiếc hàng không mẫu hạm của Tầu phù đáng lý ra phải nên duy trì mục đích ban đầu là chỉ để làm khách sạn nổi, và làm Casino lưu động, còn được việc, tiện lợi, hữu dụng hơn. Chiếc hàng không mẫu hạm Thi Lang thật vô dụng. Theo lời Đô Đốc R. Willard, chỉ huy trưởng căn cứ quân sự Mỹ ở Hawaii, khi tường trình với ủy ban an ninh quốc phòng thượng viện Mỹ, đã khẳng định là còn lâu chiếc hàng không mẫu hạm Thi Lang mới đưa vào sử dụng hiệu quả. Đô Đốc Robert Willard nói, nguyên thủy chiếc Thi Lang là chiếc HKMH Varyag của Ukrain, chỉ dài 1000 feet, thiết kế để cho chiến đấu cơ đáp thẳng như trực thăng.

Chiếc HKMH Thi Lang không có hệ thống dây cable để hảm tốc độ khi chiến đấu cơ đáp xuống. Nga đã từ chối cung cấp hệ thống dây “cable” tự động này. Còn lâu Tầu cộng mới chế biến ra được hệ thống này. Hơn nữa HKMH Thi Lang chỉ dài 1000 feet, các phi công Tàu cộng còn phải huấn luyện dài dài mới có khả năng đáp xuống trên phi đạo ngắn. Do đó HKMH Thi Lang chừ hoàn toàn không có phi cơ, chỉ để làm kiểng hù dọa VC cho vui thôi. Tác giả Đào Văn Bình còn quá đề cao chiến đấu cơ tàng hình loại J-20 của Tầu cộng so với F35 của Mỹ là quá ảo tưởng. Vì trên thực tế, Tầu cộng chỉ cho J-20 rà rà ở phi trường để hù dọa cựu tổng trưởng quốc phòng Gates thôi. Chẳng ai biết chiến đấu cơ J-20 thật sự có hay không?

Còn các đạn đạo DF-21D, tầm sa của Tầu cộng, trên thực tế chưa có khả năng áp lực đến hàng không mẫy hạm của Mỹ. Nói cách khác các lá bài tẩy của Tầu cộng đã bị lật ngữa. Bằng chứng cụ thể là báo chỉ lề phải của Tầu cộng là hò hét, nào là trừng trị Philippines, nào là đánh cho Mỹ biết tay “ba tàu” dơ bẩn, dã man như thế nào, nhưng đảng và nhà nước Tầu cộng đã dịu giọng trước sức ép, và chiến lược cờ vây của Mỹ ở Châu Á Thái Bình Dương. Tác giả Đào văn Bình đã ngủ mơ, vì Mỹ hoàn toàn không có ý định lập thêm căn cứ quân sự ở bất cứ quốc gia nào của khối ASEAN. Đào Văn Bình còn quên đi những gì ngoại trưởng H. Clinton đã bày tỏ trong bài tham luận cuối năm 2011.

Chính sách ngoại giao của Mỹ về đối ngoại đối với các nước ASEAN đã bắt đầu ngay từ khi TT. Obama lên nắm quyền. Nếu không có ngoại giao, làm sao ngoại trưởng Clinton dám tuyên bố nảy lửa trong kỳ hội nghị ASEAN, làm ngoại trưởng Tầu cộng Dương Khiết Trì phải điên tiết, trào máu, phải bỏ phòng họp ra khỏi bàn hội nghị. Nếu không có ngoại giao, làm thế nào TT.

Obama lại có chương trình viếng thăm Úc trong kỳ hội nghị ASEAN năm ngoái, và đọc diễn văn trước lưỡng viện quốc hội Úc? Nếu không có ngoại giao, làm thế nào cả quốc hội Úc và dân Úc không có phản ứng nào cả khi TT. Obama và thủ tướng Úc, Julia Gillard, đồng thuận cho Mỹ sự xử dụng căn cứ không quân Darvin của Úc.

Tác giả Đào Văn Bình đã sai lầm khi đánh giá về căn cứ Darvin là quá xa khi tấn công Tàu cộng. Thật sự liên minh Mỹ Úc chọn căn cứ Darvin là để đặt bộ tham mưu của Mỹ ngoài tầm đạo đạo của Tầu cộng. Nhưng với Tầu cộng thì Mỹ có khả năng tấn công bất cứ vị trí nào trên thế giới. Vị thế Darvin, được phân bổ cho chiến lược tham mưu, tình báo, chỉ huy hơn là để tấn công.


Các tiềm thủy đỉnh ”tèng hình” của đế quốc đỏ sáu sao, khó mà di chuyển, lặn trốn vì các eo biển quan trọng vùng Biển Đông ASEAN đã bị Mỹ và đồng minh kiểm soát chặt chẽ. Mỹ và đồng minh đang ở thế thượng phong và Tầu cộng đang bị bao vây về cả hai mặt quân sự, kinh tế.

Hiệp ước TPP xuyên Thái Bình Dương đang cố tình áp đặt Tầu cộng phải hành xử luật quốc tế, tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ mới được gia nhập. Tác giả Đào văn Bình còn đánh giá quá thiển cận về khả năng tàu chiến tối tân của Mỹ ở cảng Singapore là chỉ để bảo vệ Singapore thôi. Đào văn Bình đã quên là eo biển Malacca, có vị trí rất đặc biệt, dài nhưng lại hẹp, mà hẹp nhất và cạn nhất là ở ngay vị thế do Singapore có chủ quyền.

Eo biển Malacca còn quan trọng hơn eo biển Hormuz nhiều về số lượng thương thuyền, tầu dầu thông thương nhất là thương thuyền và tàu dầu của Nhật và Tầu cộng. Nếu không có ngoại giao thì làm sao Mỹ đã được cả ba nước là Indonesia, Malaysia, Singapore có chủ quyền eo biển Malacca đã đồng thuận cho Mỹ tuần tra và kiểm soát eo biển Malacca.

Nói cách xác tín hơn, khẳng định hơn, ngoại giao của Mỹ đã đi trước Tầu cộng từ ngày TT. Obama bắt đầu nhậm chức tổng thống đầu năm 2009, và ngoại trưởng H. Clinton có sứ mạng triển khai hoàn thành sứ mạng khó khăn đó. Tác giả Đào văn Bình viết về chiến lược Mỹ ở châu Á Thái Bình Dương: “Cho tới bây giờ thì cả thế giới đều chú ý đến diễn biến trọng đại này nhưng chưa có nhà bình luận nào hoặc chưa có một tiết lộ nào liên quan đến chiến lược triển khai lực lượng như thế nào để đạt mục tiêu đó.” Đào văn Bình đã quá ngây thơ, mơ ngủ.

Bàn cờ chính trị, quân sự, kinh tế thế giới chuyển biến không ngừng, người lãnh đạo giỏi là phải có tầm nhìn sâu rộng, biết ứng phó với mọi tình huống. Nếu Mỹ chuyển hướng, dồn chiến lược quân sự kinh tế về vùng sôi động, nóng bỏng ở châu Á thái Bình Dương là lẽ thường tình, để duy trì vị thế lãnh đạo hàng đầu trên thế giới, nhất là ở Thái Bình Dương. Đào Văn Bình nhận định là Mỹ trở lại Châu Á là quá sai lầm, vì Mỹ chưa từng bỏ châu Á, mà Mỹ chỉ vận dụng trọng tâm chiến lược từ Châu Âu sang châu Á. Bằng chứng cụ thể là các các cứ quân sự của Mỹ ở Guam, Nam Hàn, Nhật chẳng những được duy trì từ hơn nửa thế kỹ qua mà còn được tân trang, hiện đại hóa. Các hiệp ước quân sự với Nam Hàn, Nhật, Úc, Philippines đã được tái lập mở rộng, kết nối, liên minh chặt chẽ hơn.

Cũng có thể nói, chính sách của Tẩu cộng vì quá áp đảo, lấn lướt các nước nhỏ như Nam Hàn, Nhật, Philippines, Taiwan.... nên các nước đó mới kết liên với Mỹ chặt chẽ hơn. Về chiến lược quân sự, chính trị, kinh tế đã được phối trí quá rõ ràng qua bài tham luận của ngoại trưởng H. Clinton, và bài diễn văn của TT. Obama đọc ở lưỡng viện quốc hội Úc cũng đã biểu hiện một phần học thuyết, doctrine, của TT. Obama. TT. Obama và tổng trưởng quốc phòng Mỹ, ông Leon Panetta đã tuyên bố quá rõ ràng về ngân sách, về phương thức cắt giảm quân số để ứng phó với tình trạng bị cất giảm ngân sách khoảng 450 tỳ đô trong mười năm tới.

Qua kế hoạch đó, ngân sách quốc phòng Mỹ trong năm tới trội hơn 5-6 tỷ đô so với năm nay. Trong bài diễn văn của TT. Obama đọc ở lưỡng viện Úc ngày 17-11-2011 đã dứt khoát, khẳng định là ngân sách quốc phòng của Mỹ đã bị cắt giảm trên 450 tỷ đô trong mười năm tới, nhưng ngân khoảng chi cho nhu cầu ở châu Á Thái Bình Dương không bị ảnh hưởng. Điều này đã được bộ trưởng quốc phòng Mỹ trình bày rõ ràng là cắt giảm gần 100 ngàn quân, có thể tương đương với 10 tỷ đô giảm chi mỗi năm. Mỹ cũng đã có kế hoạch di chuyển một số lực lượng ở Châu Âu, chuyển quân về châu Á.

Và trong kế hoạch đó, trên thực tế ngân sách quốc phòng của Mỹ trong năm tới sẽ tăng 5-6 tỷ đô so với năm nay. Điều này tác giả Đào văn Bình đã hoàn toàn mơ ngủ trong rừng U Minh. Đào văn Bình còn quên đi một điều quan trọng là vấn đề chính trị ở Mỹ thay đổi gần như mỗi hai năm và mỗi bốn năm, tùy theo kết quả bầu cử ở thượng viện và hạ viện và quốc hội do đảng nào nắm quyền.

Trên thực tế, dù là đảng cộng hòa hay dân chủ nắm quyền, khi có chiến tranh xảy ra ngân sách bao giờ cũng sẽ được điều chỉnh để đối phó với bất cứ cuộc chiến nào làm ảnh hưởng tai hại đến nước Mỹ và dân Mỹ. Chính sách giảm quân số của Mỹ, trên thực tế còn nhằm mục đích để cho về hưu một số hạ sĩ quan, tướng tá già, lớn tuổi để các hàng tướng tá trẻ hơn lên nắm quyền, tương xứng với kỹ thuật tối tân và vũ khí hiện đại, với kỹ thuật thông tin, tình báo, vừa được tiết kiệm ngân sách, vừa làm thống nhất thông suốt bộ máy điều hành, và chỉ huy. Ban tham mưu và chiến lược của Mỹ đã có quyết định cắt giảm binh sĩ, sĩ quan và các “tướng tá già”của Mỹ là đã thông suốt, đổi mới.

Đấy cũng là cơ hội tốt đẹp cho các tướng tá trẻ lên nắm quyền chỉ huy, lãnh đạo, phù họp với chiến thuật nhanh gọn, cho chiến lược hải quân lưu động, di chuyển trên biển. Tất cả những nổ lực ngoại giao của Mỹ hơn ba năm qua, để có sự bố trí quân sự trong chiến lược cờ vâycủa Mỹ ở Châu Á Thái Bình Dương, là để nhằm mục đích ổn định hòa bình, phát triển kinh tế, làm thịnh vượng toàn khu vực. Nghị sĩ Joe Lieberman đã tuyên bố thẳng thừng là: “Muốn ôn định hòa bình tức là chuẩn bị sẵn sàng cho chiến tranh.” Thiển nghĩ, thế cờ vây của Mỹ qua chiến lược quân sự, chính trị, kinh tế để đối phó với mọi tình huống xảy ra ở Thái Bình Dương hay ở Biển đông đã quá minh bạch.

Chỉ có lãnh đạo lú lẩn, rù rờ VC là chưa thông suốt, nên còn mơ ngủ trong chính sách “khỉ đu dây” để giữ đảng, làm thân khuyển mã, tôi mọi, nô lệ cho Tầu phù. Thật không gì dơ bẩn, xú uế, ô nhục cho bọn lãnh đạo đảng hai bao cao su đã qua sử dụng như Trọng Lú, Dũng Sà Mâu, Tư Sang bọ xít...

. Có thể nói quan điểm và nhận định của tác giả Đào Văn Bình đã quá lỗi thời, và quá nghiên về phía CSVN Hà nội, Tầu cộng trong ý đồ tuyên truyền để làm mọi người mất tin tưởng vào thế lực quân sự, chính trị của Mỹ. Đào Văn Bình có ngộ nhận về nền kinh tế, kỹ thuật của Tầu cộng đang phát triển.

Ông Đào Văn Bình ngớ ngẩn viết: “Ngay hôm nay, tại Hoa Kỳ, vào các hệ thống bán lẻ khổng lồ của Mỹ như Costco, Wal-mart, Target, các tiệm bán máy móc, đồ điện tử như Best Buy, Fry-Electronics, Office Max…chúng ta không sao tìm thấy mặt hàng USA mà toàn Made in China.” Thật tội nghiệp cho kiến thức của ông Đào Văn Bình vô cùng. Ông ta đã quên nhận xét là ngoài sản phẩm gia dụng đó trên thị trường Mỹ còn cả sản phẩm made in Vietnam, made in Indonesia, made in Philippines, Pakistan, India, Thailand.....

Tất cả những gì Đào Văn Bình phát hiện chỉ là các sản phẩm gia công của Tàu, của VC, Indonesia... do các tư bản Mỹ, Âu châu mang đến cho các nước có công nhân giá rẻ thôi. Điều chắc chắn là ông Đào Văn Bình chưa bao giờ thấy xe auto made in China lưu hành trên xa lộ của Mỹ đúng không?

Tại sao? Vì China, Tầu cộng chưa có khả năng kỹ thuật cao như các nước Nam Hàn, Nhật, Pháp, Đức, Thụy Điển....Tầu cộng cũng sản xuất xe auto được, nhưng chưa đủ điều kiện an toàn để cho nhập vào Mỹ. Nhưng ông Đào Văn Bình đừng quên là tư bản ngoại quốc đầu tư ở Tàu cộng đã và đang di dời một số công nghiệp của họ ở Tầu cộng sang các nước có nền chính trị ổn định, và nhân công rẻ hơn.

Hơn nữa, sản phẩm sản xuất từ Tàu cộng, nhất là thực phẩm đang bị thế giới tẩy chay vì phẫm chất xấu, và chứa quá nhiều hóa chất tai hại cho sức khỏe và nhân mạng con người. Các tư bản ngoại quốc đang nghiên cứu tiềm năng phát triển ở Miến Điện để chuyển đầu tư gia công đến Miến điện, nơi đó đang có chính sách miễn thuế trên 8 năm. Nếu miến điện quyết tâm khẳng định, đi theo con đường dân chủ, tự do để phát triển giàu mạnh và thịnh vượng, chắc chắn sẽ có nhiều cơ hội để cho nhiều tư bản ngoại quốc đến đầu tư hơn.

Khi tư bản ngoại quốc di dời máy móc của họ sang các nước khác có nhân công rẻ hơn, kinh tế, doanh nghiệp của Tàu cộng sẽ phải đối diện với nhiều nguy cơ về kinh tế, chính trị, xã hội, khi có nội loạn xảy ra. Như chúng ta đã biết, dưới gầm trời này không có cái gì là bất biến, bất diệt, vĩnh cửu cả. Trước đây hơn mười năm qua những cuộc thăm dò địa chấn ở California, các nhà địa chất học đã dự đoán là trong vòng 30 năm sẽ có một cuộc địa chấn cấp 8 Richter ở nam California, có thể một phần đất của California sẽ bị tách ra khỏi lục địa. Nhưng hơn mười năm qua số người dân nhập cư ở bang California vẫn đông đảo hơn là số người dân rời bỏ bang CA.

Con người đã có sự chọn lựa để sinh tồn. Con người thích chọn tự do hơn là nô lệ. Trong khi đó ngay sau 30/4/ 75 làng sóng người chạy giặc nội xâm Hà nội ở Việt Nam Cộng Hòa cả triệu người, dù biết là họ đi tìm tự do trong con đường chết ở Biển Đông. Tự do là cái giá phải trả bằng máu, bằng sinh mạng, thà chết vinh hơn là sống nhục dưới chế độ CSVN. Sự kiện đó vẫn đang tiếp tục diễn ra ở Bắc Hàn, ở Cộng sản Việt nam, ở Cuba, và ở Tầu cộng. Nhà văn Dương Thu Hương đã viết một câu để đời là nếu “cây cột đen biết đi nó cũng bỏ chạy”.

Nói cách khác, cả thế giới loài người đều hãi sợ và ghê tởm chế độ cộng sản còn hơn dã thú, rắn độc. Sống chung với cộng sản, hòa họp, hoà giải với cộng sản là một điều sẽ không bao giờ xảy ra. Đó chỉ là ảo tưởng. Cộng sản VN cũng đã dở trò “khỉ đu dây” với hai nước cộng sản Nga, và cộng sản Tầu, nhưng hậu quả là một tai hại lớn cho họ. Cộng sản Nga đã làm lơ khi Tầu cộng dạy cho CSVN một bài học đích đáng.

Tầu cộng đã tàn sát người dân Miền Bắc cận biên giới Trung Việt quá dã man, và bọn lãnh đạo giòi bọ Hà nội phải triều cống, vạch lại biên giới, lãnh thổ. Ngay trong nội bộ đảng, cũng đã xảy ra nhiều cuộc thanh trừng, giết hại lẫn nhau đẩm máu, dã man, tàn nhẫn, dơ bẩn qua mỗi thời đại tổng bí thư. Việt cộng đã liên minh với Tầu cộng trong tình đồng chí, nghĩa nô lệ.

Lãnh đạo giòi bọ, ruồi nhặng Hà nội vẫn phải làm nước chư hầu, van xin cho có được cờ máu sáu sao như đã diễn ra khi Tập Cận Bình đến Hà nội thị sát. Thử hỏi còn gì ô nhục cho đảng mafia Hà nội và 14 tên thái thú CSVN gia nô, bưng bô ở Bộ Chính Trị.

Đảng cộng sản Hà nội vẫn phải ôm nhục mà chịu thần phục, không dám cho dân đi biểu tình, vì sợ mất đảng. Phải chấp nhận cho Tầu cộng tự do ra lệnh cấm ngư dân Việt đánh bắt cá ở Biển Đông. Đảng CSVN đã biến thành một loại đảng bán nước buôn dân như Lê Chiêu Thống.

Còn lãnh đạo giòi bọ, ruồi nhặng Nguỹên Tấn Dũng, Trọng Lú, Tư Sang, Sinh Hùng cũng là một loại cẩu nô, khuyển mã như Trần Ích Tắc thôi. Sống chung với Tầu phù, Tàu khịa sao lại phải làm thân khuyển mã, ô nhục như vậy? Mỹ đã liên Minh với Nhật, Nam Hàn đã có dư nửa thế kỹ, và liên minh Mỹ Nhật, Mỹ Nam Hàn gần đây càng chặt chẽ hơn, cũng như liên minh giưã Úc và Mỹ đã diễn ra tốt đẹp như chúng ta đã thấy.

Nếu liên minh chỉ để lợi dụng nhau, để ăn mày, để xin xỏ, van lạy thì sự liên minh đó không bao giờ bền chặt. Nhưng nếu liên minh trong sự bình đẳng, mỗi bên đều có trách nhiệm trong tinh thần xây dựng, phát triển ổn định về quân sự, kinh tế, chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, tôn trọng lẫn nhau để dân có sự thịnh vượng, giàu mạnh thì sự liên minh đó sẽ bền vững lâu dài.

Liên minh để sống hoàn toàn dựa vào nước bạn, để ăn cắp, tham nhũng, buôn lậu, tự do gông cùm, xiềng xịch, ngục tù, đánh cướp dân, không tôn trọng luật quốc tế như CSVN thì chẳng bao giờ hiện thực. Nói một cách dễ hiểu hơn: một người chỉ biết trồng cần sa, buôn lậu, giao tiếp với đĩ điếm, côn đồ Vịệt cộng, không thể kết bạn với một người Việt tỵ nạn CSVN Hà nội đã có đời sống tự do, tôn trọng luật pháp, có nghề nghiệp chuyên môn. Liên Minh với Mỹ, hay liên Minh với Nhật, cả hai nước phải có cấu trúc hóa học về cơ chế, luật pháp, chính thế tương đồng.

Điều này thật quá khó khăn cho lãnh đạo CSVN Hà nội vì họ không có những điều kiện tối thiểu đó. Vì dưới chế độ CSVN không có tự do, không có dân chủ, không có nhân quyền, mà chỉ có ngục tù, gông cùm, tù đày, trộm cướp giữa ban ngày. Dưới cơ chế CSVN Hà nội chỉ có luật rừng, công an là luật, họ muốn giết người tùy tiện, họ muốn hiếp dâm học sinh tùy thích, họ muốn đánh cướp người dân, bất cứ lúc nào như sự việc đã xẩy ra ở Tiên Lãng gần đây nhất, hay bất cứ nơi nào.

Ở dưới chế độ CSVN không phải chỉ có giới trí thức chân chính, địa chủ, tư bản, tư sản bị đánh cướp, bị giết hại, mà cả giới nông dân, công nhân cũng bị đàn áp, bị giết hạị, bị đánh cướp, bị gông cùm, bị ngục tù. Trong phần “tạm kết luật” của tác giả Đào văn Bình thì quá tào lao, ảo tưởng. Tác giả Đào Văn Bình đã quên là chúng ta đang sống ở đầu thế kỹ XXI, không phải ở thế kỹ XI, hay XVII. Do đó không có lý do gi các nước Đông Nam Á phải chung sống với nước khổng lồ Tầu cộng.

Nam Hàn và Nhật Bản còn gần gũi Tàu hơn so với các nước ông Nam Á, nhưng cả hai nước đâu phải sống chung với Tầu cộng, và cũng chẳng quan tâm tới Tầu cộng. Đáng lý ra tác giả Đào văn Bình phải tự hỏi là tại sao hai nước nhỏ như Nam Hàn, và Nhật bản lại hùng cường, dân giàu, thịnh vượng. Trong khi đó thì CSVN lại tụt hậu, nghèo đói, lãnh đạo giòi bọ, ruồi nhặng VGCS chỉ biết ăn mày, đi bằng hai đầu gối, quỳ lạy lãnh đạo Tàu cộng như thế sao.

CSVN Hà nội muốn được làm chư hầu của Tầu cộng bằng mọi giá, nhưng chưa được thỏa thuận. Cả đảng và lãnh đạo giòi bọ, ruồi nhặng trong Bộ Chính Trị đã van xin Tập Cận Bình dán cho một ngôi sao trên lá cờ máu Tàu cộng, mà vẫn chưa được trọn vẹn. Thật là ô nhục cho các quan thái thú Trọng Lú, Nguỹên Tấn Dũng, Trương Tấn Sang và Nguyễn Sinh Hùng.

Nhất là tên hề Nguỹên Tấn Dũng, ăn mặc đồng phục với Đới Bỉnh Quốc, Tập Cận Bình cho ra vẻ thái thú của một nước nhược tiểu chư hầu. Chỉ tiếc là Tàu cộng đã biết quá rõ bọn lãnh đạo Việt khấu Hà nội có nhị tâm, có lòng lang dạ thú, tráo trở, tham tàn, dã man, khát máu nên còn e dè, thận trọng cân nhắc. DTK Mỹ Trở Lại Á Châu Như Thế Nào?

@CSVN PHUONG BAN NUOC HAI DAN.jpg

@@ congsanBanNuoc.gif
DOT CO MAU & HO CHI MINH.JPG

TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Tình hình GHPGVNTN trong năm 2011

Ỷ Lan, thông tín viên RFA
2012-01-25

Phật giáo Việt Nam hiện nay vẫn còn nằm trong tình trạng hai khối. Trên mặt nổi có Giáo hội Phật giáo Việt Nam được Đảng và Nhà nước hình thành năm 1981 thống nhất tất cả các tổ chức theo cách mạng trong thời chiến tranh.

RFA file Screen capture

Hòa thượng Thích Quảng Độ tại Thanh Minh Thiền Viện

Giáo hội này được công khai hoạt động.

Hai Giáo Hội Phật Giáo tại Việt Nam


Khối thứ hai là khối đa số chư Tăng Ni, Phật tử thầm lặng không muốn chính trị hóa Phật giáo, hiện nằm dưới danh xưng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN). Tuy không có một văn kiện nào của Nhà nước giải thể GHPGVNTN hay tuyên bố Giáo hội này bất hợp pháp, nhưng trong thực tế Giáo hội này bị ngăn cấm các hoạt động tôn giáo cũng như trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, từ thiện.

Theo tài liệu Giáo hội công bố, thì 36 năm qua GHPGVNTN liên tục bị đàn áp, bắt bớ, hăm dọa, thảm sát. Nhưng Giáo hội vẫn tồn tại trên thực tế qua sự lãnh đạo của ba vị Tăng Thống : Đức cố Đệ tam Tăng Thống Thích Đôn Hậu, Đức cố Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang và hiện nay Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ.

Mười tám Ban Đại diện GHPGVNTN tại các tỉnh miền Trung và miền Nam luôn luôn bị sách nhiễu, cấm đoán các Phật sự cũng như cấm đoán tổ chức các kỳ đại lễ trong năm như Tết, Phật Đản, Vu Lan. Ba năm trước, lần đầu tiên tỉnh Hải Phòng ở miền Bắc có một Ban Đại diện xin tham gia GHPGVNTN. Nhưng tức khắc vị Chánh Đại diện liền bị đàn áp, khủng bố, đưa tới tình trạng tê liệt.
Mười tám Ban Đại diện GHPGVNTN tại các tỉnh miền Trung và miền Nam luôn luôn bị sách nhiễu, cấm đoán các Phật sự cũng như cấm đoán tổ chức các kỳ đại lễ trong năm như Tết, Phật Đản, Vu Lan.

Năm bảy năm trước đây tình trạng căng thẳng đưa tới những xô xát, bắt bớ tại các chùa của Giáo hội, đặc biệt ở miền Trung. Nhưng năm 2011 vừa qua thì tình trạng có phần lắng dịu. Khi được hỏi nguyên do, Hòa thượng Thích Thiện Hạnh, Chánh Ban Đại diện Giáo hội tỉnh Thừa Thiên - Huế, cho biết vì tinh thần phản kháng của Phật tử Huế rất cao, số lượng chùa theo GHPGVNTN cũng đông, đặc biệt Hòa thượng nói rằng nhờ áp lực quốc tế đối với vấn đề tôn giáo và Phật giáo đã làm cho sự đàn áp không còn lộ liễu như trước. Hòa thượng cũng cho biết thời gian có biến động Mùa Xuân Ả Rập, công an đã tăng cường canh gát trước các chùa thuộc Giáo hội Thống nhất.

Ban Đại diện Thừa thiên – Huế là nơi duy nhất từ ba năm qua được tổ chức Đại lễ Phật Đản và có chương trình giáo dục cho 58 Tăng sinh ở 3 cấp: Sơ Đẳng, Trung Đẳng và Cao Đẳng phật học. Sau đây là lời phát biểu của Hòa thượng Thích Thiện Hạnh :

Hội nghị đại biểu Phật giáo Việt Nam thành lập GHPGVN, nhiệm kỳ 1981 - 1987 (Ban tôn Giáo chính phủ)
Hội nghị đại biểu Phật giáo Việt Nam thành lập GHPGVN, nhiệm kỳ 1981 - 1987 (Ban tôn Giáo chính phủ)

Dù có sự lắng dịu và không lộ liễu trong cung cách đàn áp, sách nhiễu, nhưng hậu quả vẫn chưa đưa tới sự tự do hoạt động tôn giáo đối với GHPGVNTN. Có những chuyến Giáo hội đi cứu trợ cho đồng bào miền Thượng du, thì ban ngày đi phát quà, phát tiền không thấy cản trở gì, song tối đến công an tới từng nhà tịch thu các tiền và quà mà đồng bào nhận được.

Theo bản báo cáo tổng kết của Hòa thượng Thích Viên Định, vị Tân Viện trưởng Viện Hóa Đạo, đọc trước Đại hội GHPGVNTN kỳ IX tổ chức hồi tháng 11 năm ngoái, thì tình hình Giáo hội có thể tóm gọn như sau :

« Thành viên các Ban Đại Diện địa phương, các vị trụ trì các chùa thuộc GHPGVNTN, hầu hết đều bị đàn áp, đe doạ, cô lập, sách nhiễu bằng nhiều cách như thường xuyên mời “làm việc”, điều tra, thẩm vấn, bắt báo trình nhiều việc vặt vãnh để gây khó khăn, nhất là trước các cuộc lễ Phật giáo, các ngày Giỗ chạp các vị Tổ sư. Các Phật tử hằng ngày về chùa tụng kinh, lễ Phật cũng bị theo dõi, sách nhiễu, đe doạ công ăn việc làm, bóp chẹt kế sinh nhai ngoài xã hội. Gia đình các Huynh trưởng trong các Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử là những người hứng chịu nhiều đe doạ, sách nhiễu nhất, gây ra nhiều cảnh đau khổ thương tâm vô cùng.
« Thành viên các Ban Đại Diện địa phương, các vị trụ trì các chùa thuộc GHPGVNTN, hầu hết đều bị đàn áp, đe doạ, cô lập, sách nhiễu bằng nhiều cách như thường xuyên mời “làm việc”, điều tra, thẩm vấn, bắt báo trình nhiều việc vặt vãnh để gây khó khăn, nhất là trước các cuộc lễ Phật giáo

« Ở Huế, Khuôn hội Mai Vĩnh ở Huế bị nhà cầm quyền đưa người về quản lý, xâm chiếm đất chùa. Chùa Kim Quang do Hoà Thượng Thích Thiện Hạnh trú trì vẫn tiếp tục bị ngăn chặn việc xây dựng nhà Tăng.

« Ở Quảng Nam – Đà Nẵng, Ban Đại diện bị đàn áp rất nặng nề. Các chùa Giác Minh, chùa An Cư bị cô lập.

« Thượng toạ Thích Viên Đức Trú trì Tịnh Thất Bửu Đức, tỉnh Đồng Nai, bị sách nhiễu, bắt đi làm việc thường xuyên.

Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ
Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ. RFA file
« Ban Đại Diện tỉnh Quảng Trị do Thượng toạ Thích Từ Giáo làm Chánh Đại Diện cũng bị đàn áp, sách nhiễu, gặp rất nhiều khó khăn. Ngay cả những ngày An cư kiết hạ của chư Tăng cũng bị công an tràn vào làm náo động, đánh mẹ của Thượng tọa Từ Giáo ngã trong sân chùa ».

GHPGVNTN luôn bị theo dõi sách nhiễu hăm dọa


Nhân dịp đầu năm chúng tôi điện thoại hỏi thêm tin tức Giáo hội, thì được Hòa thượng Thích Viên Định, Tân Viện trưởng Viện Hóa Đạo, xác nhận như sau :


Điển hình của cuộc đàn áp, ngăn cấm hoạt động tôn giáo của GHPGVNTN có thể nhìn qua chùa Giác Minh ở Đà Nẵng. Chùa do Hòa thượng Thích Thanh Quang trú trì và cũng là nơi đặt trụ sở Ban Đại diện Giáo hội tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng đồng thời là trụ sở của Tổng vụ Thanh niên và Gia đình Phật tử Vụ. Suốt trong năm qua chùa bị công an phong tỏa ngày đêm. Ngày Phật Đản cũng như ngày lễ Vu Lan, công an không cho Phật tử vào chùa lễ Phật. Thậm chí những gia đình Phật tử để tro cốt ông bà cha mẹ tại chùa không được vào lễ bái. Công an và Tổ dân phố khuyên những ai gửi hương linh, tro cốt người thân đã mất ở Giác Minh phải di dời sang chùa khác trong thành phố. Nếu không thực hiện được việc này ở chùa khác, nhà cầm quyền sẽ gửi giúp.

Qua cuộc thăm hỏi viễn liên, Hòa thượng Thích Thanh Quang, Tổng Thư ký Viện Hóa Đại GHPGVNTN kiêm Chánh Ban Đại diện Giáo hội tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng xác nhận sự ngăn cấm các hoạt động tôn giáo, lễ lạc tại chùa Giác Minh suốt năm qua :
Không riêng chùa Giác Minh, mà tất cả các chùa thành viên GHPGVNTN tại Quảng Nam – Đà Nẵng đều bị ngăn cấm, phong tỏa, điển hình như chùa An Cư của Đại đức Thích Thiện Phúc ở phường Hải Bắc.

Không riêng chùa Giác Minh, mà tất cả các chùa thành viên GHPGVNTN tại Quảng Nam – Đà Nẵng đều bị ngăn cấm, phong tỏa, điển hình như chùa An Cư của Đại đức Thích Thiện Phúc ở phường Hải Bắc.

Ngay vào đêm Giáo thừa hôm chủ nhật vừa qua, Phật tử đến cúng chùa Giác Minh cũng bị công an ngăn cấm không cho váo chùa, mà đoạn thu băng sau đây là thực trạng suốt năm 2011 :


Tuy bị cấm đoán, khó khăn, sách nhiễu, nhưng GHPGVNTN trong năm qua cũng không ngừng tham gia hậu thuẫn các ưu tư của người dân trong xã hội, hay tổ chức các chuyến cứu trợ từ thiện xã hội tại những nơi có thiên tai, lũ lụt.

Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ đã lên tiếng phản đối vụ án phi pháp đối với Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ.

Đáp lời kêu gọi của giới Học sinh – Sinh viên biểu tình hôm 5.6. trước Lãnh sự quán Trung quốc ở Saigon, Hòa thượng Thích Quảng Độ cùng chư tăng các chùa thuộc GHPGVNTN ở Saigon quyết định tham gia. Nhưng từ sáng sớm tinh mơ Thanh Minh Thiền viện, chùa Giác Hoa cùng các chùa trực thuộc giáo hội đều bị công an phong tỏa, nội bất xuất ngoại bất nhập. Nhân dịp này, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ đã tuyên bố : « Mình là người Tăng sĩ nhưng cũng là người công dân. Nước mất, đất tổ bị xâm lấn không ai có thể làm ngơ. Tôi tuổi đã cao nhưng rất phấn khởi và tin tưởng khi thấy giới trẻ Học sinh – Sinh viên còn nghĩ tới chuyện nước non, còn kêu gọi biểu tình để cảnh tỉnh lòng người. Nên tôi và chư Tăng muốn ra tham gia hưởng ứng và ủng hộ giới trẻ. Nhưng ai ngờ Nhà nước lại cho công an ngăn cấm lòng yêu nước thương nòi của người dân !? ».

Qua cuộc phỏng vấn của Đài Á châu Tự do hôm 7. 6 sau sự kiện nói trên và trước tình hình nghiêm trọng của đất nước, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ kêu gọi sự hình thành một “Liên Minh Chống Ngoại xâm”, tập họp toàn dân từ Bắc chí Nam để bảo vệ chủ quyền dân tộc.

Trước tình hình căng thẳng trên biển đảo giữa Bắc Kinh và Hà Nội và sau chuyến viếng thăm và ký kết của ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hồi đầu tháng 10, Nhân danh GHPGVNTN Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ viết thư Ngỏ hôm 21.10 gửi ông Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam nói lên nỗi thất vọng khi không thấy chủ quyền Việt Nam được minh định, Qua Thư ngỏ Hòa thượng Thích Quảng Độ đề xuất Nhà nước cần căn cứ vào các công ước về Luật Biển LHQ cũng như các công ước liên quan của ASEAN để quốc tế hóa vấn đề Biển Đông cũng như « minh bạch hóa các thỏa thuận với Bắc Kinh trong vấn đề chủ quyền dân tộc ». Hòa thượng cũng nhận xét rằng « Đảng và Nhà nước không thể thở mãi bằng lỗ mũi Trung quốc. Muốn thế, Đảng và Nhà nước cần chuyển hóa ôn hòa sang chế độ dân chủ đa nguyên để đất nước có thể thở bằng lỗ mũi của gần 90 triệu dân Việt ».

« Đảng và Nhà nước không thể thở mãi bằng lỗ mũi Trung quốc. Muốn thế, Đảng và Nhà nước cần chuyển hóa ôn hòa sang chế độ dân chủ đa nguyên để đất nước có thể thở bằng lỗ mũi của gần 90 triệu dân Việt ».
Hòa thượng Thích Quảng Độ
Sự kiện nổi bật trong năm 2011, dù khó khăn, thất thế, nhưng GHPGVNTN đã thành công tổ chức Đại hội kỳ IX suy tôn Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ lên ngôi vị Đệ Ngũ Tăng Thống là ngôi vị cao nhất của GHPGVNTN, và cung thỉnh Hòa thượng Thích Viên Định làm tân Viện trưởng Viện Hóa Đạo.

Tại lễ suy tôn Tăng Thống tổ chức tại chùa Điều Ngự ở thành phố Westminster, miền Nam California, Hoa Kỳ, đồng thời với « Lễ Cầu nguyện cho Hòa bình thế giới, An ninh Đông Nam Á, Vẹn toàn lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam và Quốc nạn, Pháp nạn sớm tiêu trừ », trước 4000 Phật tử và đồng bào các giới cùng với 150 chư Tăng Ni và quan khách quốc tế. Những lời phát biểu quốc tế tại đây, như bà Dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ, Loretta Sanchez, bà Marietje Shaake, Dân biểu Quốc hội Châu Âu, ông Sherif Mansour từ Ai Cập, Ông Arne Linngard từ Sáng hội Rafto Na Uy, đều nói lên sự hậu thuẫn công cuộc vận động cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ của GHPGVNTN dưới sự lãnh đạo của Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ.

Đại hội cũng đưa ra Quyết Nghị 12 điểm về các hoạt động kiện toàn và phát huy cơ sở Giáo hội trong và ngoài nước cho năm Nhâm Thìn 2012, đặc biệt là « Mở rộng và thúc đẩy tích cực công tác vận động quốc tế kêu gọi sự hậu thuẫn của thế giới thực hiện Chương trình 8 điểm trong “Lời Kêu gọi cho Dân chủ Việt Nam” » của Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ.


Ỷ Lan, Phóng viên Đài Á châu Tự do tại Paris

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/about-bouddh-in-vn-2011-01252012145925.html

Tổng kết tình hình GHPGVNTN và tin về Giải Nobel Hòa Bình


PARIS, ngày 8.2.2012 (PTTPGQT) - Thông cáo báo chí hôm nay xin gửi đến quý Bạn đọc đầu năm bản “Tổng kết tình hình Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN)” do Nhà báo Ỷ Lan thực hiện. Đây là bản đã phát thanh trên Đài Phật giáo Việt Nam trong chương trình phát về Việt Nam hôm thứ sáu 3.2.2012.


Bao gồm tình hình Giáo hội cùng các lời bình luận được chép lại từ Huế của Hòa thượng Thích Thiện Hạnh, Chánh Thư ký Viện Tăng Thống kiêm Chánh Ban Đại diện GHPGVNTN Thừa thiên – Huế, từ Saigon của Hòa thượng Thích Viên Định, Tân Viện trưởng Viện Hóa Đạo, và từ Đà Nẵng của Hỏa thượng Thích Thanh Quang, Tổng Thư ký Viện Hóa Đạo kiêm Chánh Ban Đại diện GHPGVNTN Quảng Nam – Đà Nẵng.

Thông tin thứ hai nói về việc các nhân vật và chính giới quốc tế đề cử Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ làm ứng viên Giải Nobel Hòa bình năm nay, 2012. Đây là sự hồi đáp cho các bức thư khắp nơi gửi về Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế hỏi thăm.

Sở dĩ ba bốn năm qua chúng tôi đã ngưng loan tải sự kiện các nhận vật, giáo sư đại học chính giới quốc tế liên tục, từ năm 1999, mỗi năm viết thư về Ủy ban Giải Nobel Hòa bình ở thủ đô Oslo, Vương quốc Na Uy, đề cử Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ làm ứng viên Giải Nobel Hòa bình. Ấy là vì Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ yêu cầu Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế ngưng đề cập tới các sự đề cử này. Hòa thượng dạy rằng đây là ý kiến riêng của chư vị trong thế giới, họ có toàn quyền làm việc đó. Nhưng không do Giáo hội vận động, nên tránh đề cập những gì không liên quan đến Giáo hội, sẽ có thể làm đầu đề cho những kẻ thiếu hiểu biết bình luận sai lạc.

Chúng tôi đã tuân thủ lời ngài căn dặn suốt ba, bốn năm qua. Tuy nhiên năm nay nhân sự kiện Đài Á châu Tự do loan tin về sự đề cử mới này qua cuộc phỏng vấn một vị Dân biểu Quốc hội Châu Âu. Đài Á châu Tự do là cơ quan truyền thông quốc tế lớn, mỗi bản tin liền trở thành một công luận. Do đó, chúng tôi in lại thông tin ấy dưới đây, như một ngoại lệ, đồng thời hồi đáp sự hỏi han của Bạn đọc bốn phương.

TÌNH HÌNH GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT TRONG NƯỚC NĂM2011

Ỷ LAN

Phật giáo Việt Nam hiện nay vẫn còn nằm trong tình trạng hai khối. Trên mặt nổi có Giáo hội Phật giáo Việt Nam được Đảng và Nhà nước hình thành năm 1981 thống nhất tất cả các tổ chức theo cách mạng trong thời chiến tranh. Giáo hội này được công khai hoạt động.

Bản tin báo Nhân dân Giáo hội Phật giáo Nhà nước ra đời ngày 7.11.1981 và kéo nhau đến bái lĩnh Thủ tướng Phạm Văn Đồng

Khối thứ hai là khối đa số chư Tăng Ni, Phật tử thầm lặng không muốn chính trị hóa Phật giáo, hiện nằm dưới danh xưng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN). Tuy không có một văn kiện nào của Nhà nước giải thể GHPGVNTN hay tuyên bố Giáo hội này bất hợp pháp, nhưng trong thực tế Giáo hội vẫn bị ngăn cấm các hoạt động tôn giáo cũng như trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, từ thiện. Theo tài liệu Giáo hội công bố, thì 36 năm qua GHPGVNTN liên tục bị đàn áp, bắt bớ, hăm dọa, thảm sát. Nhưng Giáo hội vẫn tồn tại trên thực tế qua sự lãnh đạo của ba vị Tăng Thống : Đức cố Đệ tam Tăng Thống Thích Đôn Hậu, Đức cố Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang và hiện nay Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ.

Xin xem toàn văn tài liệu của ông Đỗ Trung Hiếu tiết lộ Đảng biến tướng Phật giáo thành công cụ chính trị cho Đảng năm 1981 trên Trang nhà Quê Mẹ:

Mười tám Ban Đại diện GHPGVNTN tại các tỉnh miền Trung và miền Nam luôn luôn bị sách nhiễu, cấm đoán các Phật sự cũng như cấm đoán tổ chức các kỳ đại lễ trong năm như Tết, Phật Đản, Vu Lan... Ba năm trước, lần đầu tiên tỉnh Hải Phòng ở miền Bắc có một Ban Đại diện xin tham gia GHPGVNTN. Nhưng tức khắc vị Chánh Đại diện liền bị đàn áp, khủng bố, đưa tới tình trạng tê liệt.

Năm bảy năm trước đây tình trạng căng thẳng đưa tới những xô xát, bắt bớ tại các chùa của Giáo hội, đặc biệt ở miền Trung. Nhưng năm 2011 vừa qua thì tình trạng có phần lắng dịu. Khi được hỏi nguyên do, Hòa thượng Thích Thiện Hạnh, Chánh Ban Đại diện Giáo hội tỉnh Thừa Thiên - Huế, cho biết vì tinh thần phản kháng của Phật tử Huế rất cao, số lượng chùa theo GHPGVNTN cũng đông, đặc biệt Hòa thượng nói rằng nhờ áp lực quốc tế đối với vấn đề tôn giáo và Phật giáo đã làm cho sự đàn áp không còn lộ liễu như trước. Hòa thượng cũng cho biết thời gian có biến động Mùa Xuân Ả Rập, công an đã tăng cường canh gát trước các chùa thuộc Giáo hội Thống nhất.

Ban Đại diện Thừa thiên – Huế là nơi duy nhất từ ba năm qua được tổ chức Đại lễ Phật Đản và có chương trình giáo dục cho 58 Tăng sinh ở 3 cấp: Sơ Đẳng, Trung Đẳng và Cao Đẳng phật học. Sau đây là lời phát biểu của Hòa thượng Thích Thiện Hạnh:

«Dạ thưa chị Ỷ Lan. Vấn đề sinh hoạt của Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) Thừa thiên – Huế tương tối tôi thấy có phần dễ chịu chút đỉnh. Tôi nói sinh hoạt dễ chịu hơn là nói cho dễ nghe vậy thôi. Thật sự thì chưa hề có dấu hiệu nào cụ thể để gọi là hết truy bức, bách hại đối với GHPGVNTN. Bởi lẽ bất cứ sự việc nào thuộc ban ngành nào được tổ chức thì đều vẫn có sự hiện diện đông đủ, lấp ló, rình rập của các chú Công an mặc áo thường dân mời « làm việc », đề nghị giải tán, v.v… Nơi nào yếu bóng vía thì không cử hành lễ được. Họ rủ nhau ra quán cà phê trước cổng chùa, hút thuốc lào, nhắm cà phê rồi bài bạc.

«Kể từ thời gian có các cuộc dân chủ nổi dậy đòi hỏi dân chủ, nhân quyền ở tại Trung Đông, thì các quán cà phê trước các chùa thuộc GHPGVNTN thấy có đông đảo Công an nhiều hơn.

«Ở Thừa thiên – Huế sở dĩ sinh hoạt được như tôi nói là dễ dàng hơn, thì đây chính là nhờ có số đông Tăng tín đồ đông đảo, sinh hoạt có nề nếp, có quy củ, lại nữa tinh thần bảo vệ Chánh pháp kiên cố. Nhiều chùa thuộc thành viên GHPGVNTN thì có 18 ngôi chùa chính thức có Tăng chúng sinh hoạt đông đủ. Nơi đây Gia Đình Phật tử cũng là một đoàn thể đông đúc, có tổ chức chặt chẽ. Có lẽ nhờ những yếu tố đó mà sinh hoạt của Thừa thiên – Huế có phần thuận tiện hơn các nơi khác chăng?»

Dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ, Chris Smith, đến chùa Bảo Quốc Huế thăm Hòa thượng Thích Thiện Hạnh - Ảnh IBIB

Dù có sự lắng dịu và không lộ liễu trong cung cách đàn áp, sách nhiễu, nhưng hậu quả vẫn chưa đưa tới sự tự do hoạt động tôn giáo đối với GHPGVNTN. Có những chuyến Giáo hội đi cứu trợ cho đồng bào miền Thượng du, thì ban ngày đi phát quà, phát tiền không thấy cản trở gì, song tối đến công an tới từng nhà tịch thu các tiền và quà mà đồng bào nhận được.

Theo bản báo cáo tổng kết của Hòa thượng Thích Viên Định, vị Tân Viện trưởng Viện Hóa Đạo, đọc trước Đại hội GHPGVNTN kỳ IX tổ chức hồi tháng 11 năm ngoái, thì tình hình Giáo hội có thể tóm gọn như sau:

«Thành viên các Ban Đại Diện địa phương, các vị trụ trì các chùa thuộc GHPGVNTN, hầu hết đều bị đàn áp, đe doạ, cô lập, sách nhiễu bằng nhiều cách như thường xuyên mời “làm việc”, điều tra, thẩm vấn, bắt báo trình nhiều việc vặt vãnh để gây khó khăn, nhất là trước các cuộc lễ Phật giáo, các ngày Giỗ chạp các vị Tổ sư. Các Phật tử hằng ngày về chùa tụng kinh, lễ Phật cũng bị theo dõi, sách nhiễu, đe doạ công ăn việc làm, bóp chẹt kế sinh nhai ngoài xã hội. Gia đình các Huynh trưởng trong các Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử là những người hứng chịu nhiều đe doạ, sách nhiễu nhất, gây ra nhiều cảnh đau khổ thương tâm vô cùng.

«Ở Huế, Khuôn hội Mai Vĩnh bị nhà cầm quyền đưa người về quản lý, xâm chiếm đất chùa. Chùa Kim Quang do Hoà Thượng Thích Thiện Hạnh trú trì vẫn tiếp tục bị ngăn chặn việc xây dựng nhà Tăng.

«Ở Quảng Nam – Đà Nẵng, Ban Đại diện bị đàn áp rất nặng nề. Các chùa Giác Minh, chùa An Cư bị cô lập.

«Thượng toạ Thích Viên Đức Trú trì Tịnh Thất Bửu Đức, tỉnh Đồng Nai, bị sách nhiễu, bắt đi làm việc thường xuyên.

«Ban Đại Diện tỉnh Quảng Trị do Thượng toạ Thích Từ Giáo làm Chánh Đại Diện cũng bị đàn áp, sách nhiễu, gặp rất nhiều khó khăn. Ngay cả những ngày An cư kiết hạ của chư Tăng cũng bị công an tràn vào làm náo động, đánh mẹ của Thượng tọa Từ Giáo ngã trong sân chùa».

Hòa thượng Thích Viên Định, Tân Viện trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN - Ảnh IBIB

Nhân dịp đầu năm chúng tôi điện thoại hỏi thêm tin tức Giáo hội, thì được Hòa thượng Thích Viên Định, Tân Viện trưởng Viện Hóa Đạo, xác nhận như sau :

«Kính chào cô Ỷ Lan. Phật giáo Việt Nam luôn gắn liền với vận mệnh của dân tộc, nên dân tộc sống trong hoàn cảnh nào thì Gia1o hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) cũng cùng chung hoàn cảnh đó.

«Trong hoàn cảnh ở Việt Nam, mọi quyền công dân bị bóp nghẹt, tất cả các quyền tự do đều không có, nên GHPGVNTN, một Gia1o hội dân lập, không chịu sự thống thuộc của Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, nên các thành viên Giáo hội thường xuyên bị đàn áp, cô lập, bị sách nhiễu. Các Phật sự trong nước hầu hết điều bị ngưng trệ.

«Mặc dầu luôn bị đàn áp, sách nhiễu, cô lập, gây nhiều khó khăn, trở ngại, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống, Đại Lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, và Hội Đồng Lưỡng Viện, cùng sự hỗ trợ của Văn Phòng II Viện Hóa Đạo và các Giáo Hội hải ngoại, nhất là sự lên tiếng kịp thời của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế do Đạo Hữu Võ Văn Ái làm Giám Đốc, cũng như sự can thiệp của các quốc gia, tổ chức, hội đoàn, các nhân sĩ trên thế giới, nên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, các Ban Đại Diện, Chư Tăng, Ni và Đồng bào Phật tử trong nước vẫn tiếp tục theo đuổi công cuộc phục hoạt Giáo hội và nhất là vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải cho Việt Nam».

Điển hình của cuộc đàn áp, ngăn cấm GHPGVNTN hoạt động tôn giáo có thể nhìn qua chùa Giác Minh ở Đà Nẵng. Chùa do Hòa thượng Thích Thanh Quang trú trì và cũng là nơi đặt trụ sở Ban Đại diện Giáo hội tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng đồng thời là trụ sở của Tổng vụ Thanh niên và Gia đình Phật tử Vụ. Suốt trong năm qua chùa bị công an phong tỏa ngày đêm. Ngày Phật Đản cũng như ngày lễ Vu Lan, công an không cho Phật tử vào chùa lễ Phật. Thậm chí những gia đình Phật tử để tro cốt ông bà cha mẹ tại chùa không được vào lễ bái. Công an và Tổ dân phố khuyên những ai gửi hương linh, tro cốt người thân đã mất ở Giác Minh phải di dời sang chùa khác trong thành phố. Nếu không thực hiện được việc này ở chùa khác, nhà cầm quyền sẽ gửi giúp.

Trước cổng chùa Giác Minh, công an ngăn chặn Phật tử không cho vào chùa lễ bái - Ảnh IBIB

Qua cuộc thăm hỏi viễn liên, Hòa thượng Thích Thanh Quang, Tổng Thư ký Viện Hóa ĐạoGHPGVNTN kiêm Chánh Ban Đại diện Giáo hội tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng xác nhận sự ngăn cấm các hoạt động tôn giáo, lễ lạc tại chùa Giác Minh suốt năm qua:

«Riêng về chùa Giác Minh của chúng tôi thì kể từ ngày mồng 8 tháng 7 âm lịch đến nay đã gần sáu tháng, chùa luôn luôn bị bao vây, cô lập, đóng chốt trước cổng chùa không cho ai vào trong chùa để lễ Phật và thờ cúng ông bà.

«Tín đồ chùa Giác Minh mỗi khi sắm một chút hoa quả đến dâng chùa bị kéo lôi về trạm « làm việc », bắt viết cam kết không được đến chùa Giác Minh vì chùa Giác Minh là «phản động».

«Rất là khổ đau cho tín đồ. Đứng trước cổng chùa thấy Phật mà không được vào chùa lễ Phật, dâng cúng đức Phật một nén hương, và ông bà tổ tiên của họ một vài lạy. Đành lau nước mắt ra về».

Trước cổng chùa Giác Minh, công an xét Chứng minh thư Htr Lê Công Cầu hôm 15.1.2012
- Ảnh IBIB

Không riêng chùa Giác Minh, mà tất cả các chùa thành viên GHPGVNTN tại Quảng Nam – Đà Nẵng đều bị ngăn cấm, phong tỏa, điển hình như chùa An Cư của Đại đức Thích Thiện Phúc ở phường Hải Bắc.

Ngay vào đêm Giáo thừa hôm chủ nhật vừa qua, Phật tử đến cúng chùa Giác Minh cũng bị công an ngăn cấm không cho vào chùa, mà đoạn thu băng sau đây là thực trạng suốt năm 2011:

Băng ghi âm trước cổng chùa Giác Minh rất hỗn độn giữa tiếng hét la của Phật tử và công an. Không thể nào chép ra được. Xin bạn đọc vui lòng bấm vào đây để nghe chương trình phát thanh của Đài Phật giáo Việt Nam ngày thứ sáu 3.2.2012:

Công an chận Phật tử không cho vào chùa Giác Minh lễ bái - Ảnh IBIB

Tuy bị cấm đoán, khó khăn, sách nhiễu, nhưng GHPGVNTN trong năm qua cũng không ngừng tham gia hậu thuẫn các ưu tư của người dân trong xã hội, hay tổ chức các chuyến cứu trợ từ thiện xã hội tại những nơi có thiên tai, lũ lụt.

Ngoài ra, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ đã lên tiếng phản đối vụ án phi pháp đối với Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ.

Đáp lời kêu gọi của giới Học sinh – Sinh viên biểu tình hôm 5.6.2011 trước Lãnh sự quán Trung quốc ở Saigon, Hòa thượng Thích Quảng Độ cùng chư tăng các chùa thuộc GHPGVNTN ở Saigon quyết định tham gia. Nhưng từ sáng sớm tinh mơ Thanh Minh Thiền viện, chùa Giác Hoa cùng các chùa trực thuộc giáo hội đều bị công an phong tỏa, nội bất xuất ngoại bất nhập.

Nhân dịp này, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ đã tuyên bố: «Mình là người Tăng sĩ nhưng cũng là người công dân. Nước mất, đất tổ bị xâm lấn không ai có thể làm ngơ. Tôi tuổi đã cao nhưng rất phấn khởi và tin tưởng khi thấy giới trẻ Học sinh – Sinh viên còn nghĩ tới chuyện nước non, còn kêu gọi biểu tình để cảnh tỉnh lòng người. Nên tôi và chư Tăng muốn ra tham gia hưởng ứng và ủng hộ giới trẻ. Nhưng ai ngờ Nhà nước lại cho công an ngăn cấm lòng yêu nước thương nòi của người dân!?»

Qua cuộc phỏng vấn của Đài Á châu Tự do hôm 7.6.2011 sau sự kiện nói trên và trước tình hình nghiêm trọng của đất nước, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ kêu gọi sự hình thành một “Liên Minh Chống Ngoại xâm”, tập họp toàn dân từ Bắc chí Nam để bảo vệ chủ quyền dân tộc.

Trước tình hình căng thẳng trên biển đảo giữa Bắc Kinh và Hà Nội và sau chuyến viếng thăm và ký kết của ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hồi đầu tháng 10, Nhân danh GHPGVNTN Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ viết thư Ngỏ hôm 21.10.2011 gửi ông Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam nói lên nỗi thất vọng khi không thấy chủ quyền Việt Nam được minh định, Qua Thư ngỏ Hòa thượng Thích Quảng Độ đề xuất Nhà nước cần căn cứ vào các công ước về Luật Biển LHQ cũng như các công ước liên quan của ASEAN để quốc tế hóa vấn đề Biển Đông cũng như «minh bạch hóa các thỏa thuận với Bắc Kinh trong vấn đề chủ quyền dân tộc». Hòa thượng cũng nhận xét rằng «Đảng và Nhà nước không thể thở mãi bằng lỗ mũi Trung quốc. Muốn thế, Đảng và Nhà nước cần chuyển hóa ôn hòa sang chế độ dân chủ đa nguyên để đất nước có thể thở bằng lỗ mũi của gần 90 triệu dân Việt».

Ảnh chụp Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ tại Thanh Minh Thiền Viện, Saigon, ngày mồng Một Tết Nhâm Thìn, 2012 - Ảnh IBIB

Sự kiện nổi bật trong năm 2011, dù khó khăn, thất thế, nhưng GHPGVNTN đã thành công tổ chức Đại hội kỳ IX suy tôn Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ lên ngôi vị Đệ Ngũ Tăng Thống là ngôi vị cao nhất của GHPGVNTN, và cung thỉnh Hòa thượng Thích Viên Định làmtân Viện trưởng Viện Hóa Đạo.

Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ - Ảnh IBIB

Tại lễ suy tôn Tăng Thống tổ chức tại chùa Điều Ngự ở thành phố Westminster, miền Nam California, Hoa Kỳ, đồng thời với « Lễ Cầu nguyện cho Hòa bình thế giới, An ninh Đông Nam Á, Vẹn toàn lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam và Quốc nạn, Pháp nạn sớm tiêu trừ », trước 4000 Phật tử và đồng bào các giới cùng với 150 chư Tăng Ni và quan khách quốc tế. Những lời phát biểu quốc tế tại đây, như bà Dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ, Loretta Sanchez, bà Marietje Shaake, Dân biểu Quốc hội Châu Âu, ông Sherif Mansour từ Ai Cập, Ông Arne Linngard từ Sáng hội Rafto Na Uy, v.v… đều nói lên sự hậu thuẫn công cuộc vận động cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ của GHPGVNTN dưới sự lãnh đạo của Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ.

Đại hội cũng đưa ra Quyết Nghị 12 điểm về các hoạt động kiện toàn và phát huy cơ sở Giáo hội trong và ngoài nước cho năm Nhâm Thìn 2012, đặc biệt là «Mở rộng và thúc đẩy tích cực công tác vận động quốc tế kêu gọi sự hậu thuẫn của thế giới thực hiện Chương trình 8 điểm trong “Lời Kêu gọi cho Dân chủ Việt Nam”» của Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ.

Đề cử Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ làm ứng viên Giải Nobel Hòa bình năm 2012

Hạn ghi danh đề cử ứng viên Giải Nobel Hòa bình thường năm kết thúc vào ngày mồng một tháng hai dương lịch. Kết quả chọn giải sẽ công bố vào thượng tuần tháng 10 cùng năm.

Tính đến ngày 2.2.2012, Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế có trụ sở tại Paris đã nhận được khoảng một trăm bản sao các thư của các nhân sĩ, giáo sư đại học, chính giới quốc tế, đặc biệt có nhiều vị Thượng Nghị sĩ, Dân biểu các Quốc hội Châu Âu, Hoa Kỳ, Pháp, Ý… gửi về Ủy ban Giải Nobel Hòa bình tại thủ đô Oslo, Vương quốc Na Uy, đề cử Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ.

Khởi từ năm 1999, mỗi năm đều có hàng trăm thư đề cử, có năm con số này lên tới gần bốn trăm. Bốn năm vừa qua, tên Hòa thượng luôn nằm trong danh sách rút gọn cho 3, 4 người có hy vọng đoạt giải (Shortlist). Bằng cớ quan tâm của giới truyền thông quốc tế, là mỗi năm đến thượng tuần tháng mười, nhiều Đài truyền hình quốc tế như CNN hay Đài Truyền hình Nhật đều gọi trước về Phòng Thông tin Quốc tế lấy hẹn để phỏng vấn nếu được Oslo loan tin. Ba năm qua, Đài Tuyền hình Nhật đến tận văn phòng Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế ở Paris với dụng cụ máy móc, chờ có tin loan từ Oslo là phỏng vấn ngay.

Chúng tôi cũng vừa nhận được Thông cáo Báo chí của Văn phòng Dân biểu Loretta Sanchez thuộc địa hạt Liên bang thứ 47 của California mới phát hành cho biết bà đã viết thư cho Chủ tịch Ủy ban Giải Nobel Hòa bình đề cử Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ. Thông cáo cho biết nội dung thư nhắc nhở việc bà đã từng gặp Hòa thượng tại Thanh Minh Thiền viện, dù bị sống trong tình trạng quản chế, Hòa thượng vẫn tiếp tục thúc đẩy tự do cho nhân dân Việt Nam. Bà viết : “Hòa thượng là nguồn gợi hứng cho nhân dân Việt Nam”.(…) “Mặc dù chính quyền Việt Nam tiếp tục đàn áp Hòa thượng như thế nào, thì Hòa thượng Thích Quảng Độ vẫn tiếp tục tranh đấu từ quốc nội hầu mang lại dân chủ cho Việt Nam”. Bà Sanchez cũng viết:“Bằng việc trao Giải Nobel Hòa bình cho Hòa thượng Thích Quảng Độ, Cộng đồng thế giới sẽ làm sáng tỏ rằng những vi phạm nhân quyền tại Việt Nam sẽ không qua mắt được thế giới (…) Trao Giải cáo quý cho Hòa thượng Thích Quảng Độ sẽ giúp nâng cao nhận thức người công dân trong thế giới, rằng sự thiếu tôn trọng đối với nhân loại vẫn còn hiện hữu trên địa cầu, đặc biệt tại Việt Nam”.

Hôm 7.2.2012, Đài Á châu Tự do đã phát thanh về trong nước cuộc phỏng vấn ông Tremosa I Balcells, Dân biểu thuộc Khối Liên minh Tự do và Dân chủ cho Âu châu tại Quốc hội Châu Âu. Ông cũng là Kinh tế gia, Giáo sư Đại học Barcelone tại Tây Ban Nha.

Đài Á châu Tự do phỏng vấn Dân biểu Quốc hội Châu Âu Ramon Tremosa I Balcells về Giải Nobel Hòa Bình

Bấm vào đây để nghe Đài Á châu Tự do : http://kiwi6.com/file/rs26yt3785

Ỷ Lan: Xin chào ông Ramon Tremosa I Balcells. Xin ông cho biết lý do nào ông cùng quý vị đồng viện tại Quốc hội Châu Âu vận động thu thập chữ ký đề cử Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ ứng viên Giải Nobel Hòa bình năm nay, 2012?

Dân biểu Quốc hội Châu Âu, Ramon Tremosa I Balcells

Ramon Tremosa I Balcells: Trước hết xin cảm ơn đã mời tôi nói đôi lời với Đài Á châu Tự do, là tiếng nói quan trọng và công cụ giúp đỡ cho mọi giới bất đồng chính kiến, đấu tranh bất bạo động, và là tiếng nói cho tự do, dân chủ Châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Tôi hy vọng với đôi lời phát biểu tôi có thể đóng góp thêm niềm hy vọng cho giới bất đồng chính kiến, nhân dân bị áp bức, và những người đấu tranh bảo vệ nhân quyền hiện đang dấn thân cho dân chủ Việt Nam.

Tôi người Catalan, thuộc dân tộc ít người ở Tây Ban Nha, từng bị kỳ thị hàng trăm năm trước và hiện nay vẫn tiếp tục đấu tranh cho tự do, dân chủ. Nhân dân Catalan đòi hỏi sự tôn trọng các Quyền cơ bản một cách ôn hòa và kiên trì qua những thời đại đen tối của lịch sử, như thời nội chiến dưới chế phát xít Franco chỉ mới bốn mươi năm trước đây thôi. Vì vậy tôi thông cảm và chia sẻ những sợ hãi cùng các vấn nạn mà các dân tộc bị chính quyền nước họ sách nhiễu và áp bức.

Tôi biết rõ chế độ Cộng sản Việt Nam đàn áp mọi phê phán ôn hòa, các luật gia và người đấu tranh bảo vệ nhân quyền; hạn chế tự do Internet; đàn áp những cuộc biểu tình và kiểm soát tôn giáo cũng như đàn áp những cộng đồng tôn giáo “không được thừa nhận” như trường hợp Giáo Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Tôi sẽ tiếp tục sử dụng những công cụ quốc hội của tôi để gây sự quan tâm của Quốc hội Châu Âu về những vi phạm nói trên.

Do đó, tôi quyết định hậu thuẫn Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ làm ứng viên Giải Nobel Hòa bình vì Hòa thượng là người bất đồng chính kiến nổi danh nhất Việt Nam. Ba mươi năm trời Hòa thượng bị giam cầm vì ôn hòa kêu gọi cho tự do tôn giáo, dân chủ và nhân quyền. Hiện nay Hòa thượng bị quản thúc tại Thanh Minh Thiện Viện ở Saigon, và là vị lãnh đạo tối cao của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, là tôn giáo lớn nhất tại Việt Nam, hiện bị nhà cầm quyền Cộng sản không cho hoạt động sau khi thành lập Hội Phật giáo Nhà nước năm 1981.

Thế nhưng cuộc tranh đấu của Hòa thượng là cho toàn thể nhân dân Việt Nam. Giải Nobel Hòa bình sẽ mang lại niềm hy vọng cho tất cả những ai đấu tranh cho tự do và dân chủ.

Ỷ Lan: Thưa ông, Việt Nam và Liên Âu vừa thỏa thuận Hiệp ước Đối tác và Hợp tác mới sẽ ký kết trong năm nay. Tháng giêng vừa qua đã có cuộc Đối thoại nhân quyền tại Hà Nội. Thế nhưng Việt Nam vẫn duy trì chế độ độc đảng, mọi tự do bị từ khước. Trong vị trí Dân biểu Quốc hội Châu Âu, ông có thể làm gì để áp lực cho nhân quyền trong hoàn cảnh hiện nay của Việt Nam?

Ramon Tremosa I Balcells: Qua các Quyết nghị, Quốc hội Châu Âu không ngừng kêu gọi chấm dứt các vi phạm nhân quyền và mở ra tiến trình cải cách dân chủ tại Việt Nam. Bản thân tôi vẫn tiếp tục theo dõi chặt chẽ các vấn đề này. Tôi sử dụng mọi công cụ dành cho người Dân biểu để soi sáng các sự việc xẩy ra tại Việt Nam nhằm tạo áp lực lên chế độ. Tôi thường trực tố cáo trước công luận những vi phạm nhân quyền tại Việt Nam và kêu gọi Liên Âu chấm dứt việc giao thương với Việt Nam nếu không có sự đổi thay.

Gần đây khi có phái đoàn cao cấp quốc hội và các bộ trưởng Việt Nam viếng thăm Quốc hội Châu Âu, tôi đã nói lên sự quan tâm của tôi, rằng các lợi lộc kinh tế và đầu tư mà Liên Âu mang lại cho Việt Nam rơi vào tay Đảng Cộng sản trước tiên, vì đảng kiểm soát toàn bộ kinh tế, trong khi đa số nhân dân Việt Nam sống trong nghèo khó với những bất bình đẳng xã hội.

Mỗi khi có cơ hội tôi luôn nhắc nhở Liên Âu, rằng mặc những ràng buộc với nguyên tắc nhân quyền và dân chủ như điều 1 quy định trong Hiệp ước Hợp tác Liên Âu – Việt Nam ký kết năm 1995, Việt Nam vẫn dập tắt một cách có hệ thống mọi phê phán ôn hòa, đàn áp các nhà bất đồng chính kiến tôn giáo và chính trị, nghĩa là mọi hình thức tự do ngôn luận.

Tôi thường công khai chất vấn những bước cụ thể mà Hội đồng Châu Âu thực hiện, những bước tiến mới trong tương lai để chấm dứt các vi phạm nhân quyền ? Hội đồng Châu Âu có lấy những biện pháp mạnh chống lại chính quyền Việt Nam trong khuôn khổ của Hiệp ước không ? Những hành động gì Phái đoàn Liên Âu có nhiệm sở tại Việt Nam đã thực hiện?

Tôi sẽ tiếp tục quan tâm và tố cáo mọi hình thực vi phạm. Đó là điều tối thiểu mà chúng tôi có thể lảm tại Quốc hội Châu Âu nhằm mang lại niềm hy vọng cho giới đối lập bất bạo động tại Việt Nam, và cho những ai đấu tranh đòi hỏi nền dân chủ thực sự để thăng tiến Việt Nam, những người như ông Võ Văn Ái, là những lãnh đạo cao cả và dũng cảm. Chúng tôi hậu thuẫn họ trong cuộc tranh đấu mà thắng lợi hẳn nhiên phải hiện ra, tối đoan quyết như thế.

Ỷ Lan: Xin cám ơn Dân biểu Quốc hội Châu Âu Ramon Tremosa I Balcells.


Ỷ Lan, Phóng viên Đài Á châu Tự do tại Quốc hội Châu Âu.


Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
B.P. 60063 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) - Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61 - E-mail : pttpgqt@gmail.com


gửi Dân Làm Báo